Chương 10: Bảng đèn đủ số
Mẹ tôi đến phòng đèn lúc năm giờ chiều.
Tôi thấy mẹ từ xa, qua lớp cửa kính. Mẹ đi giữa sân mỏ đông nghịt người, nhỏ thó, tóc bạc búi vội, áo len nâu, đi nhanh như chạy, như mọi khi mẹ vẫn đi. Mến đi sau, mắt sưng húp, tay níu vạt áo mẹ. Mẹ đẩy cửa kính phòng đèn, bước vào, đứng lại ở ngưỡng cửa một giây. Mười một năm trước mẹ cũng đã bước qua cái ngưỡng cửa này.
Mẹ nhìn quanh. Nhìn cái màn hình lớn với sáu cái tên đỏ nhấp nháy. Nhìn những hàng giá sạc đèn. Rồi mẹ nhìn thấy Chinh.
Chinh vẫn đứng trước giá thứ ba bên trái, trước sáu cái ô trống. Gần hai tiếng đồng hồ, cô chưa ngồi xuống lần nào. Người của ban chỉ huy mang cho cô cái ghế, cô cảm ơn, đặt nó sang bên cạnh. Ai đó đưa cho cô cốc nước, cô uống một ngụm, đặt xuống sàn. Cô đứng đó, tạp dề xưởng chỉnh hình còn đeo trên người.
Mẹ tôi đi tới. Từng bước một, chậm hơn mọi khi. Mẹ dừng lại cạnh Chinh, đúng chỗ mười một năm trước mẹ đã đứng. Hai người đàn bà đứng cạnh nhau, nhìn sáu cái ô trống.
Tôi đứng ở cuối phòng, cạnh cửa. Tôi không lại gần. Tôi biết đây không phải chuyện của tôi.
Chinh không quay sang. Mẹ tôi cũng không. Một lúc lâu sau, tôi thấy mẹ đưa bàn tay ra. Bàn tay gầy guộc, gân xanh nổi lên, bàn tay đã chẻ mười lăm năm củi. Bàn tay ấy tìm tới bàn tay Chinh đang buông thõng bên hông, nắm lấy.
– Bác xin lỗi cháu. – Mẹ tôi nói. Rất nhỏ. Nhỏ tới mức tôi đứng cuối phòng, phải đọc khẩu hình mới hiểu.
Chinh vẫn nhìn sáu cái ô trống. Nhưng tôi thấy cô siết lại bàn tay mẹ tôi.
– Bác đứng đây với cháu. – Cô nói.
Mẹ tôi đứng đó. Hai người đứng đó, tay nắm tay, không nói thêm câu nào. Mến đi tới, đứng phía bên kia Chinh, cũng nắm lấy tay cô. Ba người đàn bà đứng thành một hàng trước giá đèn, như ba cái thẻ đồng trên tấm bảng gỗ mười một năm trước.
Sáu giờ, Hiếu từ ban chỉ huy chạy sang. Mặt nó đen nhẻm, áo bảo hộ ướt đẫm mồ hôi. Nó tìm tôi trước tiên.
– Đội cứu hộ đã thông được một lỗ nhỏ qua khúc sập. – Nó nói. – Đưa được ống nước với ống khí vào. Nói chuyện được với bên trong rồi. Cả sáu người còn sống. Một người bị đá rơi trúng tay, gãy. Mấy người kia xây xước nhẹ.
– Ai gãy tay?
Hiếu nhìn về phía ba người đàn bà ở giá đèn, rồi nhìn tôi.
– Thằng Tùng. – Nó nói. – Nó che cho thằng thợ trẻ mới vào tổ. Nó bảo mày nói với Mến là nó vẫn cầm được bút ký giấy đăng ký kết hôn, tay trái.
Tôi bật cười. Tôi không biết vì sao tôi cười, nhưng tôi cười, cười tới mức phải bám vào khung cửa. Hiếu nhìn tôi, rồi cũng cười, cái cười méo xệch của thằng con trai từng khóc trong hốc đá năm nào. Rồi nó vỗ vai tôi một cái, chạy về ban chỉ huy.
Tôi đi tới giá đèn, kể lại cho ba người. Mến bật khóc thành tiếng, ôm chầm lấy Chinh. Mẹ tôi nhắm mắt lại, môi mấp máy. Chinh đứng im. Cô vẫn nhìn sáu cái ô trống. Cô sẽ nhìn cho tới khi chúng đầy.
Bà Lụa đến lúc bảy giờ. Bà nghe tin từ quán nước, đóng quán, chống gậy đi bộ vào. Người phụ trách phòng đèn bây giờ là một cậu kỹ sư trẻ, ngày xưa từng nhận đèn từ tay bà. Cậu ta thấy bà thì đứng bật dậy, kéo ghế mời ngồi. Bà không ngồi. Bà đi tới đứng sau lưng Chinh, đặt bàn tay lên vai cô.
– Lần này đông người đứng chờ nhỉ. – Bà nói.
Chinh quay lại nhìn bà. Lần đầu tiên từ lúc về tới mỏ, cô khóc.
Chín giờ bốn mươi tối, người đầu tiên được đưa lên.
Tôi không thấy. Tôi chỉ nghe tiếng loa, tiếng vỗ tay từ phía cửa giếng vọng lại, tiếng người hò reo. Rồi người thứ hai. Người thứ ba. Mỗi lần có tiếng vỗ tay, cả phòng đèn lại nín thở, rồi một cái tên đỏ trên màn hình chuyển sang màu xanh.
Mười giờ mười lăm, cái tên đỏ cuối cùng chuyển sang xanh. Lại Văn Tùng.
Người ta mang đèn của sáu người về phòng đèn. Những chiếc đèn lò lấm bùn than, vỏ nhựa trầy xước, ánh đèn đã yếu. Cậu kỹ sư phụ trách phòng đèn cầm từng chiếc, cắm vào ô. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Đèn xanh nhỏ xíu ở từng ô bật sáng.
Chiếc thứ sáu, cậu ta không cắm. Cậu ta nhìn bà Lụa. Bà Lụa nhìn Chinh.
– Cắm đi con. – Bà Lụa nói.
Chinh cầm chiếc đèn của em trai mình. Tay cô run tới mức suýt đánh rơi. Mẹ tôi đỡ lấy khuỷu tay cô. Chinh đưa chiếc đèn tới ô trống cuối cùng, cắm vào. Một tiếng tách khẽ. Ngọn đèn xanh nhỏ xíu bật sáng.
Giá thứ ba bên trái đầy. Không còn ô nào trống.
Chinh đứng nhìn cái giá đèn đầy ấy một lúc lâu. Rồi cô ngồi thụp xuống sàn, lưng dựa vào chân giá, hai tay ôm mặt. Mười một năm, cô đứng chờ một cái giá đèn đầy. Tối hôm ấy, cô mới được ngồi xuống.
Ngoài cửa kính, người ta khiêng một cái cáng đi ngang qua, hướng về phía xe cứu thương. Người nằm trên cáng mặt đen nhẻm, tay phải nẹp tạm bằng hai thanh gỗ, tay trái giơ lên vẫy vẫy về phía phòng đèn. Thằng Tùng. Mến lao ra cửa, chạy theo cái cáng, áo khoác tuột khỏi vai cũng không nhặt. Tôi nghe tiếng nó gọi tên chồng sắp cưới giữa sân mỏ đông nghịt, và tiếng thằng Tùng cười khùng khục, bảo em ơi anh đói.
Đám cưới Mến với Tùng tổ chức đúng ngày đã định, giữa tháng Mười Hai, trời rét căm căm. Thằng Tùng bó bột tay phải, treo trước ngực bằng một dải khăn đỏ, cười suốt từ sáng tới tối, ai trêu gì cũng cười. Quyết định chuyển lên xưởng sửa chữa trên mặt bằng của nó được ký sớm hơn dự kiến một tuần. Hiếu bảo, phân xưởng không muốn giữ dưới lò một thằng vừa gãy tay vừa sắp lấy vợ.
Mẹ tôi ngồi mâm với bác Bộ. Hai người già, một người ngồi xe lăn, một người nhỏ thó tóc bạc, ngồi cạnh nhau ở mâm đầu, gắp cho nhau từng miếng. Bác Bộ kể chuyện hồi đi lò với bố tôi. Mẹ tôi nghe, thỉnh thoảng gật đầu, thỉnh thoảng lấy khăn chấm mắt. Tôi không biết hai người nói gì với nhau. Tôi chỉ thấy, lúc tiễn khách, bác Bộ nắm tay mẹ tôi rất lâu, và mẹ tôi không rút tay lại.
Chinh về Hà Nội thêm một tuần. Cô làm xong cái chân cho con bé sáu tuổi, tự tay lắp, đứng sau tấm kính mờ nhìn con bé đi mười bước, rồi nộp đơn xin nghỉ. Anh Quý bảo cô điên. Ở trung tâm, cô là kỹ thuật viên giỏi nhất, sắp lên phụ trách xưởng. Cô xin vào khoa phục hồi chức năng của bệnh viện tỉnh ở Hạ Long, một cái xưởng chỉnh hình nhỏ mới mở, máy móc cũ, lương bằng nửa ở Hà Nội. Ngày nào cô cũng đi xe khách bốn mươi phút từ Cẩm Phả lên Hạ Long, rồi bốn mươi phút về.
– Thợ mỏ cụt chân ở Quảng Ninh nhiều lắm. – Cô bảo tôi. – Toàn phải lên Hà Nội làm. Em làm ở đây cho họ đỡ đi xa.
Tôi biết đó là một nửa lý do. Nửa kia, cô không cần nói.
Sáng thứ Bảy cuối cùng của năm, bốn giờ bốn mươi, tôi tráng mẻ bánh đầu tiên. Trời rét, sương muối đọng trắng trên mái tôn. Nồi nước dùng sôi lục bục, bốc hơi nghi ngút, mùi xương, mùi hành phi, mùi chả quế mới rán.
Năm giờ kém mười lăm, ca ba bắt đầu lên. Tiếng ủng lép bép trên mặt đường. Tiếng cười khàn. Tiếng ho. Tiếng gọi nhau í ới. Thằng Hiếu ngồi xuống cái ghế quen, sát nồi nước dùng. Mấy thằng thợ trẻ tranh nhau cái bàn trong góc.
Chinh ngồi ở cái ghế nhựa đỏ ngoài cùng, ghế sát mép đường, ngay dưới bóng đèn tuýp. Cô quàng khăn len, hai tay ủ trong túi áo khoác.
Tôi tráng một đĩa bánh, chan nước dùng, không hành, rắc thật nhiều tiêu. Rồi tôi gắp thêm ba miếng chả quế từ đĩa của tôi, đặt lên trên. Tôi bưng ra, đặt trước mặt cô.
Cô nhìn đĩa bánh. Nhìn ba miếng chả quế. Rồi nhìn lên tôi.
Hôm ở xưởng, trước khi điện thoại reo, cô chưa kịp trả lời. Suốt hai tháng nay, tôi không hỏi lại. Đám cưới, cái tay bó bột của thằng Tùng, cái xưởng mới của cô, những buổi chiều cô ghé qua thử lại lót chân cho tôi. Chúng tôi nói với nhau hàng trăm câu, nhưng không câu nào là câu trả lời ấy.
Cô rút một tay ra khỏi túi áo. Trong lòng bàn tay cô là cái thẻ đồng.
Hôm ở xưởng, trong cơn hốt hoảng, tôi để quên cái hộp gỗ trên bàn làm việc của cô. Cô đã giữ nó lại, xỏ qua cái lỗ ở đầu thẻ một sợi dây da màu nâu.
Cô đứng dậy, đi vòng ra sau quầy bánh, tới chỗ cây cột tre mười năm nay tôi vẫn treo cái muôi múc nước dùng. Cô treo cái thẻ đồng lên cái đinh ngay cạnh cái muôi. Thẻ đồng đung đưa mấy nhịp, ba con số khắc chìm lấp lánh dưới ánh đèn tuýp.
– Đèn anh về rồi. – Cô nói. – Treo ở đây, cho em nhìn.
Rồi cô quay lại cái ghế ngoài cùng, ngồi xuống, cầm đũa, gắp một miếng chả quế.
– Còn câu anh hỏi. – Cô nói, không ngẩng lên. – Còn. Mười một năm, chưa ngày nào hết.
Phía biển, trời vừa hửng một vệt hồng. Tôi quay vào, tráng tiếp mẻ bánh thứ hai, và lần đầu tiên sau mười một năm, tôi tráng hỏng một cái bánh vì cười.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe