Chương 9: Chữ cuối cùng
Sáng mùng Mười, anh Thiều sang văn phòng công ty đá để nhận mộ.
Văn phòng là hai cái container sơn xanh đặt cạnh đường vào mỏ, có điều hoà, có máy pha cà phê, có tấm bản đồ khu khai thác dán kín một vách. Khuông đi cùng, vì anh Thiều nhờ. Anh ta bảo một mình không nói được.
Người tiếp là anh Quyết, phó giám đốc phụ trách mặt bằng, người thành phố, đeo kính, nói năng nhỏ nhẹ. Hoạch cũng ngồi đó. Khuông không ngạc nhiên. Cả làng biết Hoạch góp vốn mua máy móc cho công ty, được chia phần khắc bia cho nghĩa trang mới của xã.
– Anh muốn nhận ngôi mộ số bốn. – Anh Quyết nhìn tờ đơn anh Thiều vừa viết. – Anh ghi quan hệ là dì ruột. Họ tên người mất anh để trống. Anh bổ sung giúp em.
Anh Thiều cầm bút lên. Khuông thấy tay anh ta run.
Khuông hiểu. Ghi Đinh Thị Gừng, là lại nói dối thêm một lần, ngay trên giấy của người ta. Ghi Đinh Thị Nghệ, là nói với cả cái văn phòng này, với Hoạch, rồi với cả làng, rằng bà giáo Nghệ dạy chữ ba mươi năm không phải là bà giáo Nghệ. Giấy khen trên tường, cái tên trên giấy khai sinh của anh Thiều, chữ ký của bà trên hợp đồng bán đất, cái gì cũng phải xem lại. Khuông không biết pháp luật nói gì về chuyện ấy. Anh chỉ biết đó không phải chuyện nhỏ.
Anh Thiều đặt bút xuống.
– Anh Quyết. – Anh nói. – Tôi kể anh nghe một chuyện. Anh nghe xong, anh muốn ghi gì thì ghi.
Anh ta kể. Không kể hết, không kể chuyện tấm bia đục trong đêm, không kể tiếng hát. Anh ta chỉ kể chuyện năm Nhâm Tý, hai đứa con gái sinh đôi, một đứa chết đuối ở Vũng Chàm, bà mẹ khóc nhầm tên, đứa còn sống mang tên chị năm mươi tư năm. Anh kể bằng giọng phẳng lặng của người đã khóc hết nước mắt từ hôm qua.
Hoạch ngồi im từ đầu đến cuối. Đến đoạn ông Hạp quỳ bên xác, cầm bàn tay trái của đứa con gái lên, Hoạch quay mặt ra cửa sổ.
Anh Quyết nghe xong thì tháo kính, lau, đeo lại.
– Anh Thiều. – Anh nói. – Chuyện giấy tờ của bác gái, em không có thẩm quyền, anh phải hỏi bên tư pháp, hỏi luật sư. Em chỉ lo phần mộ. Theo đơn này, ngôi mộ số bốn có thân nhân nhận. Gia đình muốn di dời đi đâu, công ty hỗ trợ chi phí theo đúng phương án.
– Gia đình không muốn di dời.
– Thế thì khó. – Anh Quyết nhìn tấm bản đồ. – Gò bờ tây nằm trong phần đất anh đã chuyển nhượng. Phương án là san gò làm đường vào bãi.
– Thì tôi xin rút cái gò ra khỏi hợp đồng. – Anh Thiều nói. – Tiền phần đấy tôi trả lại.
Anh Quyết im lặng một lúc. Rồi anh quay sang Hoạch.
– Anh Hoạch thấy sao? Đường vào bãi lệch đi bốn mươi mét thì thêm bao nhiêu tiền làm nền?
Hoạch chưa trả lời. Hoạch nhìn ra cửa sổ, về phía Vũng Chàm, nơi hai cái máy bơm vẫn nhả nước ồng ộc ra ruộng. Rồi Hoạch quay lại, nhìn Khuông.
– Năm tao mười lăm tuổi, – Hoạch nói, – ông Hạp gõ thước vào đầu tao vì tao hỏi tấm bia ông khắc sai. – Hoạch cười, một cái cười méo xệch. – Bây giờ tao biết là tấm nào rồi.
Hoạch rút điện thoại, bấm máy tính.
– Lệch bốn mươi mét, thêm chừng trăm hai triệu tiền nền. – Hoạch nói với anh Quyết. – Phần đấy tôi chịu một nửa. Nửa còn lại công ty tính với anh Thiều. Cái gò để nguyên.
Anh Quyết nhìn Hoạch như nhìn người lạ. Rồi anh gật đầu, kéo tờ đơn về phía anh Thiều.
– Anh ghi tên người mất đi anh. – Anh nói. – Ghi đúng cái tên anh muốn khắc lên bia.
Anh Thiều cầm bút. Lần này tay không run. Anh ta ghi bằng chữ in hoa, từng nét: ĐINH THỊ NGHỆ.
Ra khỏi văn phòng, Hoạch đi theo Khuông ra tận đường.
– Mày cần xe cẩu chở bia ra gò không?
– Cần.
– Đêm mười bốn hả?
Khuông nhìn Hoạch. Hoạch nhún vai.
– Thằng Chiến trông máy kể với tao chuyện đứa con gái đứng trên gờ đá. – Hoạch nói. – Tao không tin. Nhưng tao cũng không muốn là thằng duy nhất trong làng không giúp.
Chiều mùng Mười một, Khuông lau sạch tấm bia trên giá. Ông Hạp ngồi ghế mây ngay bên cạnh.
Ba dòng chữ. Một đường viền bông lúa. Một con chim sẻ. Dòng thứ ba còn một ô trống sau chữ "Nhâm", ô vuông kẻ bút chì đã nhoà vì nước.
– Chữ cuối cùng, – ông Hạp nói, – để tao.
– Tay cha run.
– Tao biết tay tao run. – Ông đứng dậy, bỏ gậy. – Ngày chết thì người sống phải khắc. Năm mươi tư năm trước tao khắc ngày chết của nó dưới cái tên người khác. Bây giờ tao khắc lại.
Khuông đặt cái đục mũi bằng vào tay trái cha, cái búa nhỏ vào tay phải. Ông Hạp không cầm nổi. Cái đục lắc lư như cành cây trong gió, mũi đục va vào mặt đá lách cách. Ông nghiến răng, cố giữ. Mồ hôi rịn ra trên trán ông, dù trời đang rét căm căm.
Khuông bước tới, đứng sau lưng cha. Anh vòng hai tay qua người ông, bàn tay trái anh nắm lấy bàn tay trái của ông đang cầm đục, bàn tay phải anh đỡ lấy cổ tay phải của ông đang cầm búa.
Như hồi anh mười hai tuổi, ông đứng sau lưng anh, cầm tay anh đục nét ngang đầu tiên. Bây giờ đổi chỗ.
– Cha gõ đi. – Anh nói. – Con giữ.
Ông Hạp gõ. Nhát đầu yếu, mũi đục chỉ để lại một vết trắng mờ trên mặt đá. Nhát thứ hai mạnh hơn. Đến nhát thứ ba, qua hai bàn tay mình, Khuông nhận ra cái nhịp quen thuộc của người thợ già. Bệnh run không lấy được cái nhịp ấy, vì nó không nằm ở tay mà nằm ở chỗ nào sâu hơn.
Họ đục chữ "Tý" mất gần hai tiếng. Chỉ vài nét. Một nét móc cuộn một vòng ở cuối, kiểu móc nhà họ Lưu. Chữ ấy đục thẳng, không nghiêng, như dòng tên Khuông đục hôm đầu. Ông Hạp muốn thế.
Khi nét cuối xong, ông buông đục, buông búa, ngồi phịch xuống ghế mây, thở dốc. Khuông thổi bụi trong lòng chữ.
Mất ngày 14 tháng 10 năm Nhâm Tý.
Mặt đá khô. Lần đầu tiên từ mười ngày nay, tấm bia khô ráo, không một giọt nước.
Tối hôm ấy Lành về. Chị để bé Mí lại bên ngoại, một mình đạp xe trong rét sang. Chị đứng ở cửa xưởng nhìn tấm bia khô, nhìn ông Hạp ngồi trên ghế mây, chồng ngồi bệt dưới chân ông, bàn tay già vẫn còn đặt trong tay chồng.
– Em nghe anh Thiều kể rồi. – Chị nói. – Cả xóm Đông bây giờ ai cũng biết.
Khuông chờ chị nói tiếp, chờ một câu trách, một câu tiếc sáu triệu, một câu bảo anh dở hơi. Lành không nói gì nữa. Chị xắn tay áo vào bếp, nhóm lửa, nấu nồi cháo gà. Bưng cháo lên, chị múc cho bố chồng một bát, cho chồng một bát, rồi múc thêm một bát nữa, đặt riêng lên bàn đục cạnh tấm bia, như đặt cho một người khách đang ngồi đó.
– Đêm mười bốn, – chị nói, – em đi với anh.
Hai ngày sau đó bà Gừng yếu dần.
Trạm y tế xã cho người đến truyền nước, đo tim. Cô bác sĩ trẻ bảo bà suy kiệt, tim đập chậm và không đều, phải đi viện tỉnh ngay. Bà không chịu. Anh Thiều quỳ bên giường van mẹ, bà chỉ lắc đầu. Bà bảo qua đêm mười bốn rồi đi đâu bà cũng đi.
Cô bác sĩ ra hiên, nói nhỏ với anh Thiều mấy câu. Khuông đứng gần, nghe được. Cô bảo gia đình cứ chuẩn bị tinh thần, người già suy kiệt thế này có khi đi nhanh lắm. Cô bảo nếu bà đồng ý thì gọi ngay, xe cấp cứu của xã trực cả đêm.
Đêm mười ba, Khuông thức ở nhà bà Gừng cùng anh Thiều.
Hai người ngồi ở gian ngoài, để cửa buồng mở, đèn ngủ trong buồng bật sáng. Anh Thiều pha ấm chè. Không ai uống. Ngoài kia tiếng máy bơm. Nước Vũng Chàm còn lại chừng bốn mét, anh Chiến bảo hai ngày nữa là cạn đáy.
Gần một giờ, Khuông thiếp đi trên ghế. Anh tỉnh dậy vì một luồng gió lạnh. Cửa chính mở toang. Đèn ngủ trong buồng tắt. Chăn trên giường bà Gừng lật sang một bên.
Anh Thiều cũng vừa choàng dậy. Hai người lao ra sân.
Trăng mười ba gần tròn, đã ngả về đỉnh núi đá vôi phía tây, rọi xuống cánh đồng rạ một màu bạc lạnh. Trên con đường đất ra Vũng Chàm, một bóng người nhỏ bé mặc đồ ngủ kẻ ô, tóc trắng xoã đến lưng, đang đi. Đi chậm, đều, chân trần, như người đi trong giấc ngủ.
Hai người chạy theo. Đường ruộng trơn, Khuông ngã hai lần. Bóng người phía trước không chạy, vậy mà họ đuổi mãi không kịp, như con đường dài ra dưới chân.
Đến bờ tây thì họ thấy bà.
Bà đứng trên gờ đá thấp, cái gờ mà năm mươi tư năm trước mùa khô người ta vẫn trèo xuống lấy nước, bây giờ đã nhô cao khỏi mặt nước gần ba mét. Bà đứng ở mép gờ, chân trần trên đá vôi trắng, nhìn xuống.
Và Khuông thấy một điều mà sau này anh không kể cho ai, kể cả Lành.
Hai cái máy bơm bên kia vũng vẫn đang chạy. Anh nghe rõ tiếng máy, thấy rõ ống nhựa đang phun nước ồng ộc ra ruộng. Vậy mà mặt nước Vũng Chàm đang dâng lên. Lặng lẽ, phẳng lặng, không một gợn sóng. Nó leo ngược lên vách đá vôi, lấp từng vạch ngấn trắng mà mười ba ngày bơm đã để lộ ra. Một mét. Hai mét. Nó đang leo lên đến gờ đá nơi bà Gừng đứng.
Nước chạm đến mép gờ. Chạm vào ngón chân bà.
Bà nhấc một chân lên, như người sắp bước xuống bậc thang.
Khuông nhảy tới, ôm lấy ngang lưng bà, kéo ngược lại. Hai người ngã ngửa ra trên bờ cỏ. Anh Thiều lao đến ôm mẹ. Người bà lạnh buốt, nhẹ bẫng như một bó rạ.
Khuông quay lại nhìn xuống vũng.
Mặt nước đã tụt xuống chỗ cũ, cách gờ đá gần ba mét. Vạch ngấn trắng trên vách đá vẫn khô. Như chưa từng có gì dâng lên.
Bà Gừng mở mắt. Bà nhìn Khuông, nhìn con trai. Môi bà mấp máy. Giọng già, giọng của chính bà, khàn như tiếng lá khô.
– Chị tôi bảo, – bà thều thào, – còn một đêm.
— Hết chương 9 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe