AI Truyện
Tấm bia đá xanh đục tay trái

🕯️ Truyện ma kinh dị

Con chim sẻ đá

Tấm bia đá xanh đục tay trái · Chương 11/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Con chim sẻ đá

Sáng rằm, Khuông ra gò bờ tây khi sương còn chưa tan.

Anh đi một mình. Lành còn ngủ, ông Hạp còn ngủ, cả làng còn ngủ sau một đêm không ai ngủ được. Hai cái máy bơm vẫn tắt. Con đường đất giữa hai bờ ruộng không có dấu chân nào ngoài dấu chân của cả đoàn người đêm qua, đã khô, đã cứng.

Tấm bia mới đứng trên gò, đầu quay ra mặt vũng. Trên đỉnh tấm bia, đúng chính giữa, có một con chim sẻ.

Không phải chim sống. Là đá. Một con chim sẻ nhỏ bằng đốt ngón tay cái, đậu nghiêng, đầu ngoái về phía sau, đuôi xoè hai nhánh. Rêu xanh thẫm bám kín lưng nó như một lớp lông tơ, chỉ chừa ra cái mỏ và đôi mắt là hai chấm khắc lõm. Nó ướt. Nước từ thân nó chảy thành một vệt nhỏ xuống mặt đá xanh, vắt ngang qua dòng chữ Đinh Thị Nghệ.

Khuông không dám chạm vào nó. Anh đứng nhìn rất lâu. Rồi anh quay về gọi cha.

Ông Hạp ra gò bằng xe máy, Khuông chở, ông ngồi sau ôm chặt lưng con. Đến nơi, ông xuống, không chống gậy, đi thẳng lên gò. Ông cầm con chim sẻ lên bằng hai ngón tay run rẩy, lật ngửa nó trong lòng bàn tay.

Dưới bụng con chim, rêu ít hơn. Ông lấy móng tay cái cạy nhẹ. Hiện ra hai chữ nhỏ bằng hạt tấm. Chữ N. Chữ H.

Ông Hạp nắm con chim lại trong lòng bàn tay. Ông không quỳ như hôm trước. Ông chỉ đứng, nắm tay, nhìn ra mặt vũng. Khuông thấy vai cha mình rung lên, rồi đứng yên.

– Năm mươi tư năm dưới nước. – Ông nói. – Rêu bám kín, mà nét đục vẫn còn. Đá xanh Xuân Thạch tốt thật.

Ông nói câu ấy như người thợ khen một khối đá. Rồi ông đưa con chim cho Khuông.

– Mày khoét cho nó một cái hốc trên đỉnh bia. Nông thôi, bằng đốt tay. Đặt nó vào, lấy vữa vôi gắn chân lại. Để nó đậu đấy. Không đứa nào lấy đi được.

– Cha không giữ à?

– Của tao à? – Ông Hạp lắc đầu. – Tao làm ra nó thôi. Nó là của cái Nghệ.

Chiều hôm ấy Khuông mang đục ra gò, khoét cái hốc nhỏ trên đỉnh tấm bia, đúng chính giữa. Anh đục bằng lối nhà họ Lưu, nét thẳng, đáy phẳng. Đặt con chim sẻ vào, lấy vữa vôi trộn mật mía, thứ vữa ông nội anh dùng gắn bia cổ, gắn quanh chân nó. Con chim đậu trên đỉnh bia, đầu ngoái về phía sau, nhìn qua vai mình về phía làng.

Hôm sau Lành đón bé Mí về. Con bé nghe bà ngoại kể lại chuyện đêm mười bốn theo kiểu bà ngoại, nghĩa là thêm thắt gấp ba, nên vừa về đến cổng đã đòi bố cho ra gò xem con chim.

Khuông chở nó ra. Con bé đứng trước tấm bia, ngửa cổ nhìn con chim sẻ đá trên đỉnh. Nó không sợ. Nó đọc to từng chữ trên bia như đọc bài tập đọc, chữ "Nhâm" đánh vần mãi mới ra.

– Bố ơi, chị ấy tìm được con chim rồi à?

– Ừ.

– Thế chị ấy hát hết bài chưa?

Khuông nhìn con. Anh không biết chuyện bốn câu hát cuối đã lan sang tận thôn Trung chưa.

– Hết rồi. – Anh nói. – Sao con hỏi thế?

– Tại cô giáo con bảo bài hát phải có đoạn kết. – Mí nói, như nhắc lại một điều hiển nhiên. – Hát hết thì mới đi ngủ được.

Con bé móc trong túi áo bông ra một cái kẹo lạc gói giấy bóng, thứ bà ngoại dúi cho lúc về, đặt xuống chân tấm bia, cạnh mấy chân hương bà Sáu Cống cắm đêm hôm kia. Rồi nó kéo tay bố đi về, vừa đi vừa nhảy chân sáo trên bờ ruộng, miệng ê a một bài đồng dao học ở trường.

Bà Gừng đi viện tỉnh vào ngày mười bảy.

Bà tự bảo anh Thiều đưa đi. Bà nằm viện mười hai ngày. Bác sĩ trên tỉnh bảo bà bị suy kiệt, thiếu máu, tim có vấn đề của người già, cần uống thuốc đều và nghỉ ngơi, chứ không có gì khác lạ. Lòng bàn tay trái của bà lên da non, để lại hai vết sẹo nhỏ màu hồng nhạt ở chân các ngón, chỗ người ta nắm cán búa.

Ngày bà về, cả xóm Đông sang thăm. Người ta mang cam, mang sữa, mang mấy cân đường. Không ai hỏi chuyện đêm mười bốn. Nhưng khi ra về, nhiều người đứng ở cổng, ngập ngừng, rồi nói một câu. Bà Gừng nghỉ cho khoẻ nhé. Có người nói bà giáo Gừng. Có người lỡ miệng nói bà giáo Nghệ, rồi đỏ mặt sửa lại. Bà cười, gật đầu với tất cả.

Chuyện giấy tờ thì chưa xong.

Anh Thiều lên tỉnh hỏi một văn phòng luật sư. Người ta bảo chuyện này phải làm từ từ, qua nhiều cơ quan, có những thứ sửa được, có những thứ phải có người làm chứng, có những thứ để nguyên cũng không hại gì đến ai. Bà Gừng nghe con kể, chỉ bảo: mẹ còn sống ngày nào thì mẹ làm ngày ấy, không xong thì thôi. Cái tên trên giấy là chuyện của người sống. Cái tên trên đá thì xong rồi.

Hợp đồng đất thì sửa lại. Gò bờ tây và một dải bờ chừng ba mươi mét quanh nó được tách ra, trả về cho gia đình. Anh Quyết bên công ty gửi bản vẽ mới. Đường vào bãi lệch đi bốn mươi mét. Vũng Chàm không bơm cạn nữa. Công ty để lại một phần làm hồ lắng nước cho mỏ, nhỏ hơn, nông hơn, nhưng vẫn xanh như chàm. Anh Chiến về quê trước khi máy chạy lại. Anh bảo trông máy ở đâu cũng được, trừ chỗ này.

Hoạch sang xưởng Khuông vào một buổi trưa cuối tháng.

Lần này Hoạch không đứng ở cổng. Hoạch đi thẳng vào, kéo ghế đẩu ngồi đối diện ông Hạp, rót chén nước, uống, rồi đặt lên bàn một tờ giấy.

– Bên xã kia có ba nhà đặt bia. – Hoạch nói. – Họ nghe chuyện ở gò bờ tây. Họ bảo muốn đục tay, nhà thằng Khuông đục. Tao làm máy thì nhanh, nhưng đục tay thì tao không làm nữa, tay tao cứng rồi. Mày nhận đi.

Khuông nhìn tờ giấy. Ba cái tên, ba ngày mất. Ngày mất đã qua cả. Anh đọc kỹ từng dòng, theo một thói quen mới mà anh biết mình sẽ giữ đến hết đời: hỏi lại ngày, hỏi lại năm, hỏi cho chắc người nằm dưới đúng là người mang cái tên ấy.

– Mày không sợ tao cướp mất khách à?

– Khách nào của người ấy. – Hoạch nhún vai, rồi quay sang ông Hạp. – Ông ơi. Hồi cháu mười lăm tuổi, ông gõ thước vào đầu cháu. Cháu giận ông mấy năm.

Ông Hạp nhìn Hoạch. Rồi ông giơ cái thước gỗ vẫn để ở chân ghế mây lên, gõ một cái nhẹ lên đầu Hoạch. Hoạch ôm đầu, cười. Lần đầu tiên sau nhiều năm, Khuông thấy cha mình cũng cười.

Sáu triệu trong phong bì, Khuông mang trả bà Gừng lần thứ ba. Bà không nhận.

– Chị tôi trả công thợ. – Bà nói. – Chú khắc được một dòng tên. Ông cụ khắc được một chữ cuối. Người thợ nào làm thì người thợ ấy cầm. Tôi không có quyền trả lại thay chị tôi.

Anh mang về đưa Lành. Chị cầm, không đếm, cất vào ngăn tủ. Cuối tháng anh mang ra mỏ trả thằng chủ mỏ một phần tiền ba khối đá. Hai mươi mốt triệu còn lại, anh hẹn đến Tết. Thằng chủ mỏ nghe chuyện ở gò bờ tây, đồng ý.

Một buổi chiều đầu tháng Một, trời hanh, nắng vàng như mật, bà Gừng nhờ anh Thiều gọi Khuông sang.

Bà ngồi ở gian ngoài, trước bộ bàn ghế gỗ xoan. Tấm ảnh đen trắng hai đứa con gái trước cổng đình đã được tháo khỏi tường, đặt trên mặt bàn. Bên cạnh là một cây bút bi.

– Tôi nhờ chú làm chứng. – Bà nói.

Bà cầm cây bút bằng tay phải. Ở phần lề trắng phía dưới tấm ảnh, dưới đứa con gái đứng thẳng hai tay buông xuôi, bà viết một chữ. Gừng. Rồi dưới đứa con gái nghiêng đầu về phía em, tay trái nắm một vật gì nhỏ trước ngực, bà viết một chữ nữa. Nghệ.

Chữ bà thẳng tắp, đứng như hàng cọc rào. Chữ của một cô giáo ba mươi năm dạy trẻ con viết cho ngay hàng.

Bà ngắm hai cái tên một lúc. Rồi bà làm một việc mà Khuông không ngờ. Bà chuyển cây bút sang tay trái. Bàn tay trái có hai vết sẹo hồng ở chân ngón run run, vụng về như tay đứa trẻ lớp một. Bà viết thêm một chữ nữa, bên cạnh chữ Nghệ, nhỏ hơn, xiêu vẹo, ngả ngược về bên trái như hàng tre gặp gió.

Chị.

– Xấu quá. – Bà nói, và cười. – Cả đời dạy chữ, mà viết như gà bới.

Anh Thiều đứng sau lưng mẹ, nhìn xuống tấm ảnh. Bốn mươi sáu năm, đến hôm nay anh mới biết đứa con gái nào là mẹ mình.

Bà đưa tấm ảnh cho con treo lại lên tường, chỗ cũ, ở góc cạnh tủ sách.

Tối hôm ấy về xưởng, Khuông ngồi một mình bên cái bàn lim.

Đèn tuýp sáng trắng. Ba tấm bia của ba nhà bên xã kia đã kẻ ô bút chì, chờ anh. Ngoài ngõ gió bấc thổi. Xa xa, ở chỗ Vũng Chàm, không còn tiếng máy bơm nữa, chỉ còn tiếng gió lùa qua cỏ tranh.

Dưới gầm bàn lim, trên ba lớp bao tải, tấm bia nhỏ bằng đá xanh nằm úp mặt xuống đất. Khuông không cần lật lên cũng biết trên đó ghi gì. Đinh Thị Gừng. Sinh năm Đinh Dậu. Mất ngày 14 tháng 10 năm Nhâm Tý. Dòng ngày mất ấy có từ năm mươi tư năm trước.

Anh sẽ không mài nó. Chữ đã lên đá thì không mài. Mà nghĩ cho cùng, nó cũng không sai: chiều mưa năm ấy, cái tên Gừng đã chết thật, chết cùng với đứa con gái tóc xoã đứng trên bờ vũng không dám gọi người. Dưới dòng chữ cũ còn một khoảng đá trống bằng bàn tay. Đến ngày cần, anh sẽ khắc thêm vào đó một dòng.

Anh đặt tay lên mép tấm đá. Đá khô, không lạnh. Nó nằm đó, úp mặt, kiên nhẫn như mọi tấm đá ở làng Xuân Thạch.

Chờ. Không vội.

— Hết —

Mục lục Tấm bia đá xanh đục tay trái

  1. 1Phong bì ướt trên bàn đục9 phút
  2. 2Nét đục nghiêng về bên trái10 phút đọc
  3. 3Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm10 phút đọc
  4. 4Úp mặt đá xuống10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ ở bờ tây10 phút đọc
  6. 6Người đục đá lúc hai giờ sáng10 phút đọc
  7. 7Chiều mưa năm Nhâm Tý10 phút đọc
  8. 8Cái tên đi mượn9 phút đọc
  9. 9Chữ cuối cùng10 phút đọc
  10. 10Đêm mười bốn9 phút đọc
  11. 11Con chim sẻ đá9 phút đọc

Về truyện này

Tấm bia đá xanh đục tay trái là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →