AI Truyện
Tấm bia đá xanh đục tay trái

🕯️ Truyện ma kinh dị

Cái tên đi mượn

Tấm bia đá xanh đục tay trái · Chương 8/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Cái tên đi mượn

Ông Hạp đòi sang nhà bà Nghệ.

Năm mươi tư năm ông chưa bước qua cái cổng ấy. Bây giờ ông chống gậy đi giữa Khuông và anh Thiều, chậm, chân trái kéo lê trên con đường đất. Đến cổng sắt, ông dừng lại, nhìn cây nhãn già, nhìn hàng rào dâm bụt, như người về một ngôi nhà mình từng ở. Rồi ông bước vào.

Bà nằm trong buồng, trên chiếc giường gỗ kê sát cửa sổ nhìn ra Vũng Chàm. Từ đây thấy rõ giàn máy bơm, vành đá vôi trắng nhợt đã lộ ra cao hơn đầu người. Mặt nước còn lại xanh đen, phẳng lặng như mặt gương cũ.

Bà đã tỉnh, mắt nhìn ra cửa sổ. Tóc bà đã búi lại. Thấy ông Hạp, bà không ngạc nhiên. Bà chống tay ngồi dậy, anh Thiều vội kê gối sau lưng mẹ.

– Anh Hạp. – Bà nói.

Ông Hạp kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống cạnh giường. Hai người già nhìn nhau. Khuông đứng ở cửa buồng, anh Thiều đứng cạnh mẹ, không ai nói gì trong một lúc lâu. Ngoài cửa sổ, tiếng máy bơm.

– Cô biết tôi sang làm gì rồi. – Ông Hạp nói.

– Em biết. – Bà nói. – Em chờ anh năm mươi tư năm rồi.

Bà quay sang con trai. Anh Thiều quỳ xuống bên giường, nắm tay mẹ. Bàn tay trái của bà vẫn còn băng gạc trắng chỗ hai bọng nước.

– Thiều. Mẹ kể, con nghe. Nghe xong con giận mẹ thì con cứ giận. – Bà ngừng lại, như để lấy hơi. – Mẹ không phải là Nghệ. Mẹ là Gừng.

Anh Thiều không buông tay mẹ. Nhưng Khuông thấy vai anh ta sụp xuống, như có người vừa đặt một tảng đá lên.

Bà kể chậm, có lúc dừng lâu đến mức Khuông tưởng bà thiếp đi. Giọng bà là giọng cô giáo, rõ từng tiếng, như đang đọc chính tả cho học trò chép.

– Năm ấy em ghét chị em. – Bà nói, nhìn ông Hạp. – Anh biết mà. Anh nhìn thấy em đứng ngoài cửa sổ xưởng. Mẹ thương chị, trường chọn chị, anh dạy chị đục chữ, anh làm cho chị con chim. Cái gì chị cũng có một cái của riêng. Em thì không có gì. Em chỉ có cái mặt giống chị.

Chiều mười bốn tháng Mười ấy, chị Nghệ đi gánh nước ở giếng đình. Gừng ở nhà một mình. Con chim sẻ đá chị để dưới gối, vì đi gánh nước sợ rơi. Gừng lấy con chim, đội mưa ra Vũng Chàm, đứng trên gờ đá bờ tây, ném xuống nước. Nó rơi tõm một cái, không nổi lên. Gừng về nhà, ngồi chờ. Chị về, lật gối, không thấy. Gừng nói luôn: tao ném xuống Vũng Chàm rồi, xem mày còn khoe được với ai.

– Em chỉ muốn chị khóc. – Bà nói. – Em chỉ muốn một lần chị khóc vì em.

Chị không khóc. Chị nhìn Gừng một cái, rồi chạy ra cửa, không nón, không áo tơi.

Gừng ngồi trong nhà được một lúc thì sợ. Mưa to quá. Gừng chạy theo. Đến bờ tây thì không thấy ai. Mặt vũng lăn tăn mưa. Gờ đá thấp, chỗ mùa khô người ta vẫn trèo xuống lấy nước, ngập sâu. Gừng đứng trên bờ gọi. Gọi tên chị. Không có ai thưa.

– Em đứng ở đấy, – bà nói, – không biết bao lâu. Em không dám đi gọi người. Em sợ. Em sợ người ta hỏi sao chị ra đây. Đến khi mấy ông đi rẽ ruộng về thấy cái gì đen đen như cái nón trôi gần bờ, nhảy xuống, thì đã muộn. Không phải nón đâu. Là tóc chị em.

Bà ngừng lại. Anh Thiều đã gục đầu xuống mép giường. Ông Hạp ngồi im, hai tay đặt lên cái gậy.

– Mẹ gào tên em. – Bà nói. – Mẹ ôm chị mà gào tên em. Em đứng đấy nghe mẹ gọi Gừng ơi Gừng ơi, mà em không dám thưa. Em nghĩ, nếu em thưa, mẹ sẽ biết đứa chết là chị. Mẹ sẽ hỏi chị ra vũng làm gì. Em sẽ phải nói. Mà nói ra thì mẹ không bao giờ nhìn mặt em nữa.

– Bà Thơ biết. – Ông Hạp nói. – Bà ấy biết từ đầu.

– Em biết là mẹ biết. – Bà gật. – Đêm hôm ấy, lúc chị còn nằm trên chiếc chiếu giữa nhà, mẹ gọi em vào buồng. Mẹ không đánh em. Mẹ nắm hai vai em, nhìn vào mặt em rất lâu. Rồi mẹ bảo: từ giờ mày là cái Nghệ. Cái Gừng chết rồi. Mày phải sống cho ra cái Nghệ. Em gật đầu. Thế là xong.

– Thế là xong? – Anh Thiều ngẩng lên. Mặt anh đẫm nước. – Mẹ gật đầu một cái là xong? Năm mươi tư năm?

Bà nhìn con trai. Bà không lảng tránh.

– Năm mươi tư năm. – Bà nói. – Mẹ đi học sư phạm bằng học bạ của chị. Mẹ đi dạy bằng bằng của chị. Mẹ lấy bố con bằng giấy tờ của chị. Mẹ đẻ ra con, giấy khai sinh của con ghi tên mẹ là Đinh Thị Nghệ. Mỗi lần học trò gọi cô Nghệ ơi, mẹ thưa. Thưa mãi rồi mẹ quen. Có những năm mẹ quên mất mình là ai. Mẹ chỉ nhớ lại vào một ngày.

– Ngày mười bốn tháng Mười. – Khuông nói.

Bà gật.

– Sáng mười bốn tháng Mười năm nào mẹ cũng dậy từ bốn giờ, lúc cả làng còn ngủ, ra gò bờ tây thắp ba nén hương. Mẹ không gọi tên Gừng. Mẹ gọi Nghệ ơi. Chỉ có ở đấy, chỉ có lúc ấy, mẹ mới gọi được đúng tên chị. Rồi mẹ về, đi dạy, như không có gì.

Ngoài cửa sổ, tiếng máy bơm bỗng hụt đi một nhịp, rồi nổ lại.

– Thế sao mẹ ký bán đất? – Anh Thiều hỏi. – Mẹ biết chỗ ấy có mộ dì. Mẹ biết người ta sắp bốc.

Lần đầu tiên bà quay mặt đi.

– Vì mẹ già rồi. – Bà nói. – Mẹ nghĩ, người ta bơm cạn cái vũng, bốc cái mộ không tên đưa về nghĩa trang xã, gom chung với mấy chục cái mộ vô danh khác. Thế là hết. Không ai đi qua gò bờ tây nữa. Không ai nhìn thấy tấm bia anh Hạp khắc. Mẹ chết đi, chuyện cũng chết theo. Mẹ nghĩ thế. Mẹ muốn chôn chị lần thứ hai, cho thật sâu.

Bà nói câu ấy mà không khóc. Giọng bà khô như lá rạ.

Anh Thiều đứng bật dậy, đi ra hiên. Khuông theo ra. Anh ta đứng dưới gốc nhãn, hai tay chống vào thân cây sần sùi, lưng run lên.

– Năm tao học lớp năm, – anh Thiều nói, không quay lại, – cô chủ nhiệm cho cả lớp làm bài văn tả mẹ. Tao về hỏi mẹ sao mẹ tên là Nghệ. Mẹ bảo bà ngoại đẻ ra mẹ đúng mùa nghệ trổ hoa, hoa nghệ trắng muốt nở giữa bẹ lá, nên đặt tên thế. Mẹ kể mặt tươi như hoa. Tao viết vào bài văn, được chín điểm, cô đọc cho cả lớp nghe.

Anh ta lấy mu bàn tay quệt mặt.

– Cái chuyện ấy cũng là chuyện của người khác. – Anh nói. – Cái tên ấy, cái mùa hoa ấy, là của dì tao. Thế mà mẹ tao kể như kể chuyện của chính mình, mặt không đổi sắc. Ba mươi lăm năm nay tao vẫn nhớ cái mặt mẹ tao lúc ấy.

Khuông không biết nói gì. Anh đứng cạnh anh Thiều dưới gốc nhãn cho đến khi anh ta thở đều lại. Rồi hai người quay vào.

Trong buồng, ông Hạp đang nói gì đó với bà, giọng rất thấp. Khuông chỉ nghe được câu cuối.

– Tôi khắc sai mà không cãi một câu. Tôi cũng có phần.

– Anh làm theo lời mẹ em. – Bà đáp. – Anh không có phần nào cả.

– Đêm mùng Một, – bà nói tiếp, – cái đêm máy bơm chạy đêm đầu tiên, mẹ nằm mơ thấy chị. Chị đứng trên gờ đá bờ tây, tóc ướt, quay lưng lại. Chị gọi: Gừng ơi, về đi. Mẹ đi theo tiếng gọi. Sáng ra mẹ thấy chân mẹ đầy bùn, quần áo ướt hết. Mẹ tưởng mẹ mơ. Đến khi chú Khuông sang kể chuyện cái phong bì, thì mẹ biết là không phải mơ.

– Cô viết mảnh giấy ấy bằng tay trái. – Khuông nói.

– Không phải tôi viết. – Bà lắc đầu. – Tay tôi viết, nhưng không phải tôi. Cả đời tôi chưa viết được một chữ bằng tay trái. Chú hiểu không?

Khuông hiểu. Anh nhớ dòng chữ mực tím ngả ngược. Nhớ những nét đục nghiêng trên đá. Nhớ đường viền bông lúa mà cả làng chỉ có hai người đục được. Nhớ chữ "Nhâm" bà đục đêm qua, trong lúc mắt nhìn xuyên qua tấm đá về một nơi rất xa.

– Cha. – Anh quay sang ông Hạp. – Cái bia ấy, rốt cuộc, chị ấy muốn gì?

Ông Hạp gõ đầu gậy xuống nền gạch.

– Muốn cái tên của nó. – Ông nói. – Đá đã khắc tên thì phải có người nằm dưới. Năm mươi tư năm, nó nằm dưới tên người khác. Bây giờ người ta sắp bốc nó đi, đưa về chỗ khác, làm mộ vô danh, thì đến cái tên sai nó cũng không còn. Nó về đòi. Nó đặt một tấm bia mới, đúng tên, đúng ngày. Nó đục được tên, đục được năm sinh, đục được bông lúa, đục được con chim. Nhưng ngày chết thì nó không tự đục được.

– Người chết không tự khắc được ngày chết của mình. – Khuông nói, như đọc lại một câu học thuộc từ bé.

– Cho nên nó đặt mày. – Ông Hạp nói. – Mày khắc được dòng tên rồi bỏ. Nó phải mượn tay em nó. Đêm nào nó cũng gọi, cái Gừng yếu đi một ít. Mày nhìn tay cái Gừng kia.

Bàn tay trái quấn băng trắng nằm yên trên chăn.

– Nếu đến đêm mười bốn, – Khuông hỏi, – tấm bia chưa xong, chưa đặt lên mộ thì sao?

Không ai trả lời. Ông Hạp nhìn xuống cái gậy. Anh Thiều nhìn mẹ.

Bà Gừng nói, giọng bình thản như giảng một bài toán cho học trò.

– Thì tấm đá có tên Đinh Thị Nghệ, có ngày mất mười bốn tháng Mười, mà không có ai nằm dưới. – Bà nói. – Mà đá đã khắc tên thì phải có người nằm dưới.

Bà nhìn ra cửa sổ, ra mặt nước xanh đen đang rút dần của Vũng Chàm.

– Người mang cái tên ấy bây giờ chỉ còn một. – Bà nói. – Là tôi.

Một con chim sẻ đáp xuống bậu cửa sổ, nhảy hai bước, rồi bay đi.

– Mà cái tên ấy, – bà nói tiếp, rất khẽ, – ở trong người tôi năm mươi tư năm rồi. Nó mọc rễ trong tôi rồi. Đêm mười bốn chị tôi về lấy lại, tôi không biết lấy ra thế nào mà không lấy cả tôi đi.

— Hết chương 8 —

Mục lục Tấm bia đá xanh đục tay trái

  1. 1Phong bì ướt trên bàn đục9 phút
  2. 2Nét đục nghiêng về bên trái10 phút đọc
  3. 3Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm10 phút đọc
  4. 4Úp mặt đá xuống10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ ở bờ tây10 phút đọc
  6. 6Người đục đá lúc hai giờ sáng10 phút đọc
  7. 7Chiều mưa năm Nhâm Tý10 phút đọc
  8. 8Cái tên đi mượn9 phút đọc
  9. 9Chữ cuối cùng10 phút đọc
  10. 10Đêm mười bốn9 phút đọc
  11. 11Con chim sẻ đá9 phút đọc

Về truyện này

Tấm bia đá xanh đục tay trái là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →