Chương 7: Chiều mưa năm Nhâm Tý
Năm Nhâm Tý tôi hai mươi mốt tuổi, học nghề cha tôi được sáu năm, và tay tôi chưa run.
Khuông ạ, cái xưởng này hồi ấy chưa có mái ngói. Mái rạ, vách đất, nền thấp hơn bây giờ một gang. Cái bàn lim kê dưới cửa sổ thì vẫn cái bàn ấy. Cha tôi ngồi đầu bàn, tôi ngồi cuối bàn, đục bia cho cả mấy làng quanh núi. Năm ấy chiến tranh, máy bay đánh ra ngoài Bắc, trai làng đi gần hết, người chết nhiều, bia làm không kịp. Tôi được ở lại vì cái chân trái tôi ngắn hơn chân phải ba phân, khám tuyển không đạt. Tôi xấu hổ cả năm vì cái chân ấy. Cha tôi bảo: thì mày ở nhà mà khắc tên cho những đứa đi rồi không về.
Hai đứa con gái nhà bà Thơ ở cuối xóm Đông hay qua xưởng. Bà Thơ, bà ngoại anh Thiều đây. Ông nhà bà đi bộ đội từ năm sáu mươi tám, bà ở nhà một mình nuôi hai đứa sinh đôi. Hai đứa giống nhau như đúc, cả làng gọi lẫn lộn. Nhưng tôi thì không bao giờ lẫn.
Cái Gừng hay cười, hay nói, đi đâu cũng nhảy chân sáo. Cái Nghệ thì ít nói. Cái Nghệ thuận tay trái.
Hồi ấy ở trường người ta không cho trẻ con viết tay trái. Cô giáo trường làng lấy dây vải buộc tay trái nó vào chân bàn, buộc suốt năm lớp một, đến khi nào nó viết được bằng tay phải mới thôi. Nó viết được. Chữ tay phải của nó thẳng tắp, đẹp, được khen cả lớp. Nhưng về nhà, lúc không ai nhìn, nó lại viết tay trái. Chữ tay trái của nó ngả ngược, như hàng tre gặp gió.
Năm mười bốn tuổi nó bắt đầu sang xưởng ngồi xem tôi đục. Nó ngồi xổm ở góc kia, chỗ bây giờ để thùng đồ nghề, nhìn hàng giờ không chán. Cha tôi đuổi, bảo con gái không ai học nghề đá, nó vẫn sang. Một hôm cha tôi đi vắng, nó xin tôi cho cầm thử cái đục. Tôi đưa búa với đục. Nó cầm búa bằng tay trái, đục bằng tay phải, ngược hẳn lối người ta.
Tôi định bảo nó đổi tay. Nhưng nhìn nó gõ được ba nhát, tôi im. Ba nhát ấy đều hơn tôi hồi mới học một năm.
Tôi dạy nó. Lén cha tôi, lén bà Thơ. Buổi trưa, lúc cả làng ngủ, nó sang xưởng, tôi đưa nó những tấm đá vụn, đá hỏng, cho nó tập. Nó đục tay trái, nét nào cũng nghiêng về bên trái, thành bên trái thoải, thành bên phải dốc, vào nét từ bên phải, ra nét bên trái. Ngược hết với lối nhà mình. Tôi bảo nó sửa. Nó không sửa. Nó bảo tay em đi đường này thì chữ em đi đường này, anh Hạp ạ. Tôi cũng thôi không bảo nữa.
Khuông, con vẫn thắc mắc đường viền bông lúa ở đâu ra. Ông cố con đục bông lúa trên bia nhà thờ họ. Tôi đưa nó ra xem, nó thích, về tập. Nó tập cả tháng, cho đến khi bông lúa nó đục hạt nào ra hạt ấy. Cả làng bây giờ không ai đục bông lúa nữa. Chỉ có nó. Với tôi, trước khi tay run.
Cuối hè năm Nhâm Tý, có ông thợ ảnh trên tỉnh về làng chụp ảnh lấy tiền. Bà Thơ dồn tiền cho hai đứa chụp một kiểu trước cổng đình, cái ảnh anh Thiều đang treo ở góc tường ấy. Trước đó ít lâu, hồi đầu hè, cái Nghệ đục xong một dòng chữ hoàn chỉnh đầu tiên. Một dòng tên, trên một mẩu đá xanh bằng bàn tay. Nó đục tên nó. Đinh Thị Nghệ. Tôi xem, không chê được nét nào.
Tôi thưởng cho nó một con chim sẻ.
Tôi đục con chim từ một mẩu đá xanh vụn, bằng đốt ngón tay cái, ba đêm mới xong. Con chim đậu nghiêng, đầu ngoái về sau, đuôi xoè hai nhánh. Ở bụng con chim tôi khắc hai chữ nhỏ bằng hạt tấm: chữ N, chữ H. Nghệ, Hạp. Nghĩa là của Nghệ, do Hạp làm. Không có gì hơn thế. Nó là em, tôi là anh, cái tình ấy sạch như nước giếng.
Nó quý con chim ấy lắm. Đi đâu cũng nắm trong tay trái. Lúc chụp ảnh nó cũng nắm. Anh Thiều xem kỹ tấm ảnh thì thấy, đứa giơ tay trái lên ngực ấy, chính là nó.
Cái Gừng thì khác. Tôi không nói xấu người đang sống. Tôi chỉ nói cái tôi thấy. Năm ấy cái Nghệ được trường chọn đi học trung cấp sư phạm trên tỉnh, sang năm thì đi. Bà Thơ mừng lắm, đi đâu cũng khoe. Cái Gừng học kém hơn, không được chọn. Bà Thơ hay so hai đứa. Bà bảo cái Nghệ sau này làm cô giáo, cái Gừng thì ở nhà cày ruộng với mẹ. Bà nói trước mặt cả hai đứa. Bà không biết mình đang làm gì.
Cái Gừng bắt đầu ít cười. Có lần tôi thấy nó đứng ngoài cửa sổ xưởng, nhìn chị nó với tôi đục đá. Nó đứng rất lâu, rồi đi, không nói gì.
Chiều mười bốn tháng Mười năm ấy trời mưa.
Mưa phùn từ sáng, đến chiều thì nặng hạt. Gió đông bắc về sớm, rét cắt da. Tôi ngồi đục một mình trong xưởng, cha tôi đi đám ở làng bên. Khoảng ba giờ chiều, tôi nghe tiếng chân chạy ngoài ngõ. Tôi nhìn qua cửa sổ thì thấy cái Nghệ. Áo cánh nâu, quần đen, không nón, tóc xoã ướt. Nó chạy về phía Vũng Chàm.
Tôi gọi. Nó không quay lại.
Tôi tưởng nó đi chăn trâu về muộn, hay ra vũng tìm con vịt lạc. Tôi không chạy theo. Năm mươi tư năm nay, đêm nào tôi cũng nghĩ: giá tôi chạy theo.
Gần tối thì có tiếng người la ở bờ tây. Tôi chạy ra. Mấy người đàn ông đi rẽ ruộng về vừa vớt được một đứa con gái ở chỗ gờ đá thấp, chỗ mà mùa khô người ta vẫn trèo xuống lấy nước. Đứa con gái nằm ngửa trên đá, áo cánh nâu, quần đen, tóc xoã. Mặt tím ngắt. Người ta lật sấp nó lại, ấn lưng, làm hô hấp như bộ đội dạy. Không được.
Bà Thơ chạy đến, ngã sấp trên bờ ruộng hai lần. Bà nhìn đứa con gái nằm trên đá. Bà nhìn rất lâu. Rồi bà gào lên.
– Gừng ơi! Gừng ơi là Gừng ơi!
Tôi đứng sau lưng bà. Đứa con gái còn sống đứng cách đấy mấy bước, ở mép ruộng. Nó cũng ướt sũng, cũng tóc xoã, cũng run như cầy sấy. Không ai biết nó ra đấy từ lúc nào. Nó nhìn mẹ nó ôm xác, nghe mẹ nó gào tên Gừng. Nó không nói gì.
Tôi quỳ xuống bên xác. Tôi cầm bàn tay trái của đứa con gái lên.
Lòng bàn tay có vết chai ở chân các ngón, chỗ cán búa tì vào. Ở mu bàn tay có một vết xước nhỏ hình lưỡi liềm đã khô, chỗ hôm trước một mảnh đá bắn vào, chính tôi đã lấy thuốc lá rịt cho nó. Bàn tay ấy đã cầm búa ở xưởng tôi gần một năm.
Bàn tay ấy là của cái Nghệ.
Tôi ngẩng lên. Tôi định nói. Bà Thơ đang nhìn tôi. Tôi không biết bà nhìn thấy gì trong mặt tôi. Nhưng bà lắc đầu. Một cái lắc đầu rất khẽ, khẽ đến mức không ai quanh đấy thấy, chỉ có tôi.
Rồi đứa con gái còn sống cũng nhìn tôi. Mắt nó đỏ, đầy nước, nhìn tôi như con chó con bị đánh nhìn người đánh nó. Cái nhìn ấy van tôi. Van tôi đừng nói.
Tôi không nói.
Hai hôm sau bà Thơ sang xưởng, đặt cha tôi một tấm bia nhỏ. Cha tôi giao cho tôi khắc. Bà đọc cho tôi ghi: Đinh Thị Gừng, sinh năm Đinh Dậu, mất ngày mười bốn tháng Mười năm Nhâm Tý. Lúc cha tôi ra ngoài, tôi nói với bà, tôi nói rất nhỏ: bà ơi, cháu nghĩ là bà nhầm.
Bà Thơ nhìn tôi. Bà nói một câu mà tôi nhớ đến chết.
– Tôi đẻ ra chúng nó. – Bà nói. – Anh tưởng tôi không biết con tôi à?
Rồi bà khóc. Bà bảo cái Nghệ phải sống. Cái Nghệ sang năm đi học sư phạm. Cái Nghệ sau này làm cô giáo. Cái tên Nghệ không được chết. Bà bảo thế. Tôi không biết bà nói về đứa con nào. Tôi nghĩ chính bà cũng không biết.
Tôi khắc. Tôi khắc cái tên Gừng lên tấm đá xanh bằng chính lối đục cha tôi dạy, nét thẳng, móc chữ G cuộn một vòng. Tôi khắc mà tay không run. Đó là tấm bia đầu tiên và cuối cùng trong đời tôi khắc sai tên, mà cả đời không sửa được.
Con còn nhớ luật nhà mình không, Khuông? Đá đã khắc tên thì phải có người nằm dưới. Năm mươi tư năm nay, dưới tấm đá ghi tên Gừng là cái Nghệ. Còn cái tên Gừng thì không có ai mang. Còn cái tên Nghệ thì đi dạy học, đi lấy chồng, đẻ con, được giấy khen, được treo ảnh. Có một đứa con gái nằm dưới gò bờ tây, không có tên của chính mình.
Sang năm, đứa còn sống lên tỉnh học sư phạm, mang theo cái tên Nghệ, cái học bạ của cái Nghệ, cái giấy giới thiệu của trường ghi tên cái Nghệ. Không ai ngờ. Chữ tay phải của hai đứa vốn giống nhau, vì cùng một cô giáo cầm tay mà dạy. Còn cái chữ tay trái ngả ngược, cái lối đục ngược đời, thì cả làng chỉ có tôi biết. Từ hôm chôn em nó, đứa còn sống không bước chân đến gần xưởng này một lần nào nữa. Hai mươi bảy năm sau, nó dạy chữ cho con, cầm tay con uốn từng nét móc. Nó vẫn không sang xưởng. Tôi cũng không sang nhà nó.
Con chim sẻ đá, từ hôm ấy tôi không thấy nữa. Không có trong tay cái xác. Không có ở nhà bà Thơ. Có một lần, mấy năm sau, tôi gặp đứa còn sống ở chợ, tôi hỏi con chim đâu. Nó đánh rơi cả rổ trứng, rồi bỏ chạy.
Ông Hạp ngừng kể. Cái điếu cày trên tay ông đã nguội từ lâu.
Ngoài kia trời đã sáng hẳn. Nắng nhạt rọi qua song cửa sổ, nằm thành mấy vạch vàng trên tấm bia. Anh Thiều ngồi trên ghế đẩu, hai tay buông thõng giữa hai đầu gối, mặt xám ngoét. Anh ta chưa nói một câu nào từ lúc ông Hạp bắt đầu kể.
– Thế tại sao, – Khuông hỏi, – chiều hôm ấy bà Nghệ, ý con là cái Nghệ, lại chạy ra vũng?
Ông Hạp lắc đầu.
– Tôi không biết. – Ông nói. – Năm mươi tư năm tôi không biết. Người biết thì chỉ có một.
Ông nhìn về phía cửa, về phía xóm Đông, nơi có căn nhà mái bằng sơn vàng và cây nhãn già.
– Người ấy đang nằm ở bên kia.
— Hết chương 7 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe