AI Truyện
Tấm bia đá xanh đục tay trái

🕯️ Truyện ma kinh dị

Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm

Tấm bia đá xanh đục tay trái · Chương 3/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm

Sáng mùng Bốn, quanh mép tấm bia đã có một đường viền bông lúa.

Không phải hoa văn rồng mây hay hoa sen như người ta vẫn chọn. Là bông lúa, những bông lúa trĩu hạt cong xuống, nối nhau chạy quanh bốn cạnh tấm đá, hạt nào cũng tròn, cuống nào cũng mảnh. Kiểu hoa văn ấy Khuông chỉ thấy một lần, trên tấm bia cổ ở nhà thờ họ Lưu, bia do ông cố anh đục. Bây giờ ở làng không ai làm nữa, vì làm mất công gấp ba lần hoa sen.

Đường viền chưa xong. Nó chạy hết cạnh trên, cạnh trái, xuống được nửa cạnh dưới thì dừng. Như người thợ phải bỏ dở vì trời sáng.

Khuông đứng nhìn rất lâu. Anh không sợ như đêm đầu. Cái anh thấy bây giờ là một thứ lạnh ngắt chạy dọc sống lưng, chậm và chắc như nước ngấm vào đá. Đêm qua anh ngồi ở hiên đến sáng, mắt không rời cửa xưởng. Không ai đi vào. Không ai đi ra. Cánh cửa không hề động. Sáng ra, lớp tro trước ngưỡng cửa vẫn phẳng lì, cái chậu nhôm vẫn úp nguyên chỗ cũ.

Mặt đá ướt. Lớp nước mỏng phủ đều lên tấm bia, đọng thành giọt ở đáy từng nét chữ. Anh chấm ngón tay đưa lên mũi. Mùi Vũng Chàm.

Ông Hạp không ra xem. Ông ngồi trong gian trong, nghe Lành kể lại, chỉ hỏi một câu: "Bông lúa à?" Rồi ông bảo Lành đi thắp hương bàn thờ.

Từ hôm ấy làng bắt đầu nói.

Hoạch kể với ai thì Khuông không biết, nhưng đến trưa mùng Bốn, ra quán nước đầu đình đã nghe người ta xì xào. Thằng Khuông nhận khắc bia cho bà giáo Nghệ. Bà giáo còn sống nhăn ra, đứa nào đặt bia ghi sẵn ngày chết. Ông bán nước chè nhìn anh lâu hơn thường lệ. Bà Sáu Cống bán tép, gặp anh ở đầu ngõ, kéo nón xuống che mặt rồi rẽ lối khác.

Chiều, Lành đi chợ phiên bên xã về, mặt hầm hầm.

– Người ta bảo anh trù ẻo bà giáo. – Chị ném cái làn xuống. – Họ bảo nhà mình nghèo quá hoá liều, nhận cả việc thất đức. Cô Tư bên kia hỏi em có phải anh định ăn tiền của bọn công ty để dọa bà Nghệ không cho bán đất.

– Em bảo sao?

– Em bảo anh đem trả tiền rồi. – Chị nhìn anh. – Anh trả rồi phải không?

Anh không trả lời được. Tiền vẫn nằm trong ngăn kéo bàn đục.

Bà Nghệ ốm từ ngày mùng Năm.

Anh Thiều sang báo, không phải để nhờ, mà để chửi. Anh đứng ở cổng, không vào, nói to cho cả xóm nghe. Mẹ anh từ hôm nghe chuyện cái bia thì bỏ ăn, đêm không ngủ, sáng nay ngồi dậy chóng mặt ngã ra giường, trạm y tế xã đến đo huyết áp thì tụt, tim đập chậm. Anh bảo nếu mẹ anh làm sao, anh làm đơn lên công an xã, lên tỉnh, kiện cho thằng Khuông tù mọt gông.

– Mày muốn tiền thì tao cho mày tiền. – Anh Thiều chỉ tay vào mặt Khuông. – Mày đừng có giở trò với bà già.

Khuông không cãi được câu nào. Anh vào lấy xấp tiền, chạy theo anh Thiều ra tận đầu ngõ, nhét vào tay anh ta. Anh Thiều nhìn xấp tiền, rồi nhìn anh, ánh mắt lẫn lộn giận và một thứ gì đó giống như sợ.

– Mẹ tao bảo không nhận.

– Anh cầm về đi. Em xin anh.

– Mẹ tao bảo, – anh Thiều nghiến răng, – nếu mày mang trả, thì bảo mày cứ khắc cho xong. Mày nghe chưa? Mẹ tao bảo mày khắc cho xong.

Anh ta ném xấp tiền xuống chân Khuông rồi đi.

Khuông nhặt tiền lên. Sáu tờ năm trăm. Tờ nào cũng hơi ẩm, dù trời đang hanh, dù mấy hôm nay anh đã để trong ngăn kéo khô.

Chiều hôm ấy, anh đi ra Vũng Chàm.

Con đường đất từ cuối xóm Đông ra vũng chạy giữa hai bờ ruộng đã gặt, rạ để khô vàng, mùi rơm ngai ngái. Càng gần vũng, tiếng máy bơm càng to, át cả tiếng gió. Mặt nước đã tụt xuống gần hai mét. Vành đá vôi lộ ra phía trên mép nước trắng nhợt, loang lổ rêu chết đen như vết bỏng. Mấy cái cây sung mọc chìa ra từ vách đá giờ treo lơ lửng, rễ trần trụi.

Người trông máy là một anh trung niên người bên Thanh Hoá, nói giọng nặng, ngồi trong cái lán tôn dựng tạm cạnh giàn bơm, đang đun nước trên bếp cồn. Anh ta tên Chiến, công ty thuê về trông máy đêm. Thấy Khuông, anh ta mời vào uống nước, vui vì có người nói chuyện.

– Ở đây buồn chết đi được ông ạ. – Anh Chiến rót nước. – Ban ngày còn có người qua lại, tối thì chỉ có cái máy với tôi.

– Máy chạy cả đêm à anh?

– Chạy chứ. Chạy liên tục đến khi cạn. – Anh ta nhăn mặt. – Mà khổ, cứ tầm một, hai giờ sáng là nó tắt. Hai cái tắt cùng lúc. Dầu đầy, máy tốt, lọc sạch. Tôi ra giật lại thì nổ ngay. Kỹ thuật bên công ty xuống xem ba lần, bảo không có lỗi gì.

Anh Chiến uống một ngụm nước, nhìn ra mặt vũng.

– Ông là người làng, ông nói thật tôi nghe. Cái vũng này có chuyện gì không?

– Sao anh hỏi thế?

– Đêm nào máy tắt, – anh ta nói, hạ giọng, dù chỉ có hai người, – là tôi nghe có đứa con gái hát ở dưới kia. Ở mép nước phía tây, chỗ mấy nấm mộ. Tôi cầm đèn pin ra soi, chẳng thấy ai. Đêm qua tôi soi thấy một đứa mặc áo cánh nâu, quần đen, đứng trên gờ đá, tóc xoã. Tôi gọi, nó không quay lại. Tôi chớp mắt cái là mất.

Khuông nhìn sang bờ tây. Bên đó đất cao hơn, có một gò đất nhỏ mọc đầy cỏ tranh, lác đác mấy nấm mộ đất thấp lè tè không bia, không mộ chí, có cái chỉ cắm một hòn đá đánh dấu. Anh lớn lên ở làng này, đi ngang đây không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ để ý đến chúng.

– Mấy cái mộ ấy, – anh Chiến nói, – công ty bảo ngày rằm thì bốc đi. Thông báo dán ở nhà văn hoá thôn rồi, mười lăm ngày mà không ai nhận thì coi là mộ vô chủ, gom về nghĩa trang xã. Tôi chỉ mong cho nhanh đến rằm. Bốc xong, bơm cạn, tôi về quê.

Khuông về khi trời nhá nhem. Đến đầu bờ ruộng, anh ngoảnh lại. Sương đã lên, phủ kín mặt vũng như một tấm vải màn. Bên bờ tây, chỗ gò mộ, anh không thấy gì. Nhưng anh có cảm giác, rất rõ, rằng có người đang nhìn theo anh.

Tối mùng Năm, anh làm một việc mà nghĩ lại thấy trẻ con. Anh lấy cái điện thoại cũ của Lành, cái máy màn hình nứt mà bé Mí vẫn dùng để xem hoạt hình. Anh sạc đầy pin, kê nó lên cái thùng gỗ đựng đục ở góc xưởng, chĩa ống kính vào giá bia, bật quay. Anh dán băng dính đen che cái đèn nhỏ báo đang ghi. Rồi anh khoá cửa, về nhà, nằm cạnh vợ.

Lành biết. Chị không nói gì. Đến khuya, chị quay sang ôm anh, việc chị không làm từ lâu lắm, từ trước cả khi nợ tiền đá. Anh nghe tim chị đập nhanh qua lớp áo bông.

– Anh có nghe thấy gì không? – chị thì thầm.

– Chưa.

– Em nghe thấy. – Chị nói. – Đêm qua. Em tưởng em mơ. Có đứa con gái hát.

Anh không hỏi chị nghe hát gì. Anh không muốn biết là chị cũng nghe thấy.

Anh định thức để nghe. Không biết từ lúc nào anh thiếp đi, một giấc nặng như bị đá đè, không mơ.

Sáng mùng Sáu, anh mở xưởng.

Cái điện thoại vẫn trên thùng gỗ, đúng góc độ anh đặt. Màn hình tối đen. Hết pin. Anh cắm sạc, chờ máy lên, mở thư mục video. Có một đoạn, dài năm tiếng hai mươi bảy phút. Anh tua.

Mười giờ đêm, xưởng tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua song cửa sổ vẽ lên nền đất mấy vạch xám. Tấm bia đứng trên giá, mờ mờ một khối. Không có gì. Mười một giờ. Không có gì. Mười hai giờ. Một con chuột chạy qua góc màn hình. Một giờ.

Một giờ bốn mươi, vạch sáng trên nền đất chập chờn như có gì đi ngang cửa sổ. Rồi màn hình tối hẳn. Không phải tắt. Vẫn đang ghi, đồng hồ góc dưới vẫn chạy. Chỉ là tối, đen đặc, như ai đó áp bàn tay lên ống kính.

Âm thanh thì vẫn còn.

Khuông vặn to hết cỡ. Đầu tiên là tiếng máy bơm từ xa, rè rè. Rồi tiếng máy bơm khục khặc, tắt. Rồi im. Rồi tiếng đục, cạch, cạch, cạch, rất gần, gần như ngay cạnh cái điện thoại. Và giữa những tiếng đục, giọng con gái ấy.

Giọng hát nhỏ, đứt quãng theo nhịp búa, như người vừa làm vừa hát cho đỡ buồn tay. Anh phải nghe đến lần thứ tư mới nghe ra lời:

Chim sẻ ăn thóc sân đình,
Mẹ đi chợ tỉnh để mình em trông.
Chim sẻ bay mất ra đồng,
Em đi tìm mãi, mẹ không về nhà.

Câu hát lặp đi lặp lại, cứ hết lời là quay về đầu, không bao giờ sang được câu thứ năm. Đến một giờ bốn mươi bảy phút, giọng hát ngừng giữa chừng. Màn hình nhấp nháy. Rồi máy tắt hẳn, đoạn video kết thúc. Pin máy hôm qua đầy, anh đã kiểm tra.

Khuông ngồi bệt xuống nền xưởng. Lưng anh tựa vào thùng gỗ. Một lúc lâu sau anh mới ngẩng lên nhìn tấm bia.

Đường viền bông lúa đã chạy trọn bốn cạnh. Khép kín.

Và ở góc dưới bên phải, chỗ đường viền chạy về gặp nhau, trong một ô nhỏ chừng bằng bao diêm, có một hình chạm nổi. Một con chim sẻ, đậu nghiêng, đầu ngoái về phía sau, cái đuôi xoè hai nhánh. Bé tí, nhưng sống động đến mức anh tưởng chạm tay vào là nó bay.

Anh nghe tiếng gậy gõ trên nền gạch ngoài sân.

Ông Hạp đã ra. Có lẽ ông nghe được tiếng hát từ cái điện thoại anh vặn to hết cỡ. Ông đứng ở ngưỡng cửa xưởng, tay bám khung cửa, mặt trắng bệch như vôi. Mắt ông không nhìn cái điện thoại. Mắt ông nhìn thẳng vào góc tấm bia, vào con chim sẻ bằng bao diêm.

– Cha?

Ông Hạp bước vào một bước. Rồi hai đầu gối ông khuỵu xuống. Khuông nhảy tới đỡ, nhưng chỉ kịp giữ được vai ông. Ông quỳ trên nền đất nện, giữa bụi đá, hai tay chống xuống đất. Người ông run bần bật, cái run không phải của bệnh, mà của một người đàn ông bảy mươi lăm tuổi đang khóc mà không có nước mắt.

– Cha! Cha làm sao thế?

Ông không nghe thấy anh. Ông nhìn con chim sẻ trên mặt đá, môi mấp máy. Khuông phải cúi sát mới nghe ra.

– Nó về thật rồi. – Ông nói. – Năm mươi tư năm. Nó về thật rồi.

— Hết chương 3 —

Mục lục Tấm bia đá xanh đục tay trái

  1. 1Phong bì ướt trên bàn đục9 phút
  2. 2Nét đục nghiêng về bên trái10 phút đọc
  3. 3Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm10 phút đọc
  4. 4Úp mặt đá xuống10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ ở bờ tây10 phút đọc
  6. 6Người đục đá lúc hai giờ sáng10 phút đọc
  7. 7Chiều mưa năm Nhâm Tý10 phút đọc
  8. 8Cái tên đi mượn9 phút đọc
  9. 9Chữ cuối cùng10 phút đọc
  10. 10Đêm mười bốn9 phút đọc
  11. 11Con chim sẻ đá9 phút đọc

Về truyện này

Tấm bia đá xanh đục tay trái là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →