AI Truyện
Tấm bia đá xanh đục tay trái

🕯️ Truyện ma kinh dị

Úp mặt đá xuống

Tấm bia đá xanh đục tay trái · Chương 4/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Úp mặt đá xuống

Ông Hạp nằm liệt một ngày.

Không phải ốm. Trạm y tế xã cho người đến đo huyết áp, nghe tim, bảo ông cụ chỉ mệt, tuổi già, tinh thần bị kích động, cho mấy viên thuốc an thần. Nhưng ông không uống. Ông nằm nghiêng trên giường tre, mắt mở trừng trừng nhìn vách, ai hỏi gì cũng không đáp. Lành nấu bát cháo hành, ông ăn được hai thìa thì đẩy ra.

Đến tối mùng Sáu, ông gọi Khuông vào.

– Cái bia. – Ông nói. – Úp xuống.

– Con úp rồi cha ạ. – Khuông nói dối. Sáng nay anh chưa dám đụng vào nó.

– Úp xuống. – Ông nhắc lại, như không nghe. – Lót bao tải dưới, úp mặt chữ xuống đất. Lấy cái xích của chuồng trâu cũ khoá cửa lại. Bia chưa dựng thì úp mặt. Người ta thấy chữ thì người ta gọi.

– Ai gọi hả cha?

Ông nhắm mắt.

– Cha biết chuyện gì, cha nói con nghe. – Khuông ngồi xuống mép giường. – Cả làng đang bảo con trù ẻo bà Nghệ. Anh Thiều làm đơn rồi. Lành sắp không ở nổi cái nhà này. Cha biết thì cha nói đi.

– Để tao nghĩ. – Ông nói. – Tao nói ra là tao phải nói hết. Mà nói hết thì không phải chuyện của tao.

Anh hỏi mấy lần nữa. Ông quay mặt vào vách.

Khuông ra xưởng. Anh với Lành hì hục gần một tiếng mới hạ được tấm bia từ trên giá xuống. Đá xanh nặng, tám mươi phân mà hai người khiêng còn lảo đảo. Anh trải ba lớp bao tải trên nền đất, đặt tấm bia nằm úp, mặt chữ xuống dưới. Lúc úp, tay anh chạm vào con chim sẻ ở góc. Nó lạnh như mới ngâm nước đá.

Lành đứng nhìn tấm bia nằm sấp trên nền đất. Chị khoanh tay, run.

– Em đưa cái Mí sang bà ngoại mấy hôm. – Chị nói. – Nó bảo đêm qua nghe chị nào hát ngoài sân. Nó mới tám tuổi, anh ạ.

Anh gật. Anh không giữ.

Sáng sớm hôm sau anh chở hai mẹ con sang bà ngoại bên thôn Trung. Bé Mí ngồi giữa, ôm cặp sách, áo bông hồng quàng cái khăn len mẹ đan. Đi qua cổng đình, nó kéo áo anh.

– Bố ơi, chị ấy hát hay lắm.

– Chị nào hả con?

– Cái chị đêm qua ấy. Chị hát ngoài sân, cạnh cái giếng. Con nghe thấy. – Nó nói rất tự nhiên, như kể chuyện con mèo nhà hàng xóm. – Chị ấy hát chuyện con chim sẻ bay mất. Chị ấy đi tìm con chim sẻ à bố?

Lành ngồi sau, ôm chặt con. Khuông không trả lời được. Anh chỉ biết bóp phanh, cho xe chạy chậm lại qua ổ gà.

– Con có thấy chị ấy không?

– Không ạ. Con chỉ nghe thôi. – Mí nghĩ một lúc. – Mà chị ấy hát sai. Cô giáo con bảo bài hát phải có đoạn kết. Bài của chị ấy cứ hát đi hát lại đoạn đầu. Như là chị ấy quên mất đoạn sau.

Anh về đến nhà thì công an xã đến.

Người đến là một cậu trung úy trẻ, chừng hai mươi tám tuổi, người bên xã kia mới chuyển về, đi cùng một anh công an viên người làng mà Khuông quen mặt. Cậu trung úy lễ phép, xưng cháu với ông Hạp, xưng em với Khuông, ngồi ở hiên nhà, mở sổ ghi chép.

– Nhà anh Thiều có đơn trình báo. – Cậu nói. – Đơn nói anh nhận tiền khắc bia ghi tên người đang sống, kèm ngày mất, gây hoang mang cho gia đình và làm ảnh hưởng sức khoẻ cụ bà. Em xuống nắm tình hình, anh cứ kể đúng sự việc.

Khuông kể. Từ cái phong bì ướt, xấp tiền, mảnh giấy mực tím, đến việc anh khắc dòng tên. Đến đoạn những dòng chữ tự hiện ra trong đêm, anh dừng lại. Anh biết nói ra thì người ta nghĩ gì. Nhưng nhìn cậu trung úy, anh thấy không thể kể nửa chừng.

Cậu trung úy nghe hết, không cười, không ngắt lời. Cậu xin xem mảnh giấy, chụp ảnh bằng điện thoại, xin xem xấp tiền, đếm, ghi số sê-ri vào sổ. Cậu xin vào xem xưởng. Khuông dẫn vào, lật một góc bao tải cho cậu nhìn mặt đá. Cậu cúi xuống nhìn khá lâu, nhìn con chim sẻ, nhìn đường viền bông lúa.

– Anh khắc những chỗ này à?

– Anh chỉ khắc dòng tên thôi.

Cậu không hỏi tiếp. Cậu đi một vòng xưởng, kiểm tra ổ khoá, then cửa, song cửa sổ. Rồi cậu ra hiên ngồi lại.

– Việc nhận tiền đặt hàng thì không có gì sai luật, anh ạ. – Cậu nói chậm. – Khắc chữ lên đá cũng không sai. Nhưng việc này đang làm một cụ bà ốm và cả xóm lo. Em đề nghị anh tạm dừng, giữ nguyên tiền và tờ giấy, không tự xử lý. Nếu có ai đến hỏi về tấm bia, anh báo bên em. Em cũng sẽ làm việc với gia đình bà cụ, xem có ai biết người đặt không.

– Chú có tin anh không? – Khuông hỏi.

Cậu trung úy đóng sổ.

– Em tin những gì em thấy, anh ạ. – Cậu nói. – Em thấy ổ khoá còn nguyên, thấy anh không có lý do gì để tự làm khổ mình. Còn những gì em không thấy, thì em chưa kết luận.

Lúc ra về, cậu dừng ở cổng, quay lại.

– Bà ngoại em dưới quê cũng hay bảo thợ đá không khắc tên người sống. – Cậu nói. – Em không biết tại sao. Em chỉ thấy anh nên nghe ông cụ.

Trưa hôm ấy Hoạch sang.

Lần này Hoạch không mời thuốc. Hoạch đứng ở cổng, hai tay đút túi áo khoác, nhìn vào xưởng đang khoá xích.

– Mày làm cái trò gì thế hả Khuông?

– Tao không làm gì cả.

– Cả làng đồn ầm lên, mày biết không? Người ta bảo nhà mày có tà. Sáng nay hai nhà bên thôn Trung huỷ đơn đặt bia của tao, vì sợ đá Xuân Thạch "có vấn đề". – Hoạch nhổ nước bọt xuống rãnh. – Mày làm hỏng cả cái làng nghề, mày biết không?

– Mày tưởng tao thích à?

Hoạch nhìn anh một lúc. Cái giận trong mắt Hoạch tan đi một ít.

– Tao nói thật. Mày bán cái bia ấy cho tao. Tao trả mày hai triệu, tao mang lên máy mài phẳng mặt đi, coi như xong. Mày lấy tiền ấy trả bớt nợ.

– Không được.

– Sao không được?

Khuông không biết giải thích thế nào. Anh chỉ biết đứng trước tấm bia nằm úp kia, anh không nghĩ ra được có ai, kể cả Hoạch, kể cả cái máy mài, có thể xoá được những chữ ấy.

– Chữ đã lên đá rồi, không mài. – Anh nói.

Hoạch nhìn anh như nhìn người dở hơi, rồi bỏ đi. Đến đầu ngõ, Hoạch quay lại, nói một câu mà Khuông về sau còn nhớ mãi:

– Ông cụ nhà mày ngày xưa cũng thế. Năm tao mười lăm, ông bảo tao, có một tấm bia ông khắc sai mà cả đời không sửa được. Tao hỏi bia nào, ông gõ thước vào đầu tao.

Chiều, Khuông đi qua nhà bà Nghệ. Anh không định vào, chỉ đi ngang, nhìn qua hàng rào dâm bụt. Anh Thiều đang ngồi ở hiên, một mình, hai tay ôm đầu. Nhìn thấy Khuông, anh Thiều không chửi như mấy hôm trước. Anh ra cổng.

– Mẹ tao yếu lắm. – Anh Thiều nói, giọng khàn. – Bác sĩ trên trạm bảo đưa đi viện tỉnh, mẹ tao không chịu. Mẹ tao bảo không phải bệnh, đi viện không làm gì được.

– Bà có nói gì không anh?

– Không. – Anh Thiều lắc đầu. – Mẹ tao ngủ cả ngày. Đêm thì không ngủ. Đêm nào mẹ tao cũng nằm ngửa, mắt mở, tay trái nắm chặt lại như cầm cái gì. Tao gỡ tay mẹ ra, chẳng có gì. Một lúc lại nắm. Sáng ra lòng bàn tay đỏ tấy như đi cuốc cả ngày.

Anh Thiều nhìn sang Vũng Chàm. Mặt nước đã tụt sâu thêm, để lộ một vành đá vôi trắng rộng như vành nón.

– Tao hỏi mày câu này. – Anh nói. – Mày đừng nói dối tao. Đứa nào đặt cái bia ấy?

– Em không biết anh ạ. Thật.

Anh Thiều gật đầu, như đã đoán trước câu trả lời. Anh quay vào nhà.

Đêm mùng Bảy, Khuông ngủ trong xưởng.

Anh trải chiếu cạnh tấm bia nằm úp, đắp chăn bông, để cái đèn pin bên gối, khoá cửa bằng sợi xích chuồng trâu cũ như cha dặn, khoá cả ổ khoá trên then. Cái xưởng ban đêm rộng hơn ban ngày. Mùi bụi đá, mùi dầu máy mài, mùi bao tải ẩm. Ngoài ngõ tiếng chó sủa xa. Tiếng máy bơm Vũng Chàm ì ầm. Anh nằm nghe nó, đếm nhịp, tự nhủ chừng nào còn nghe máy chạy thì chừng ấy chưa có gì.

Anh định thức trắng. Đến mười một giờ, mắt anh bắt đầu díp lại. Một thứ buồn ngủ nặng nề, không giống buồn ngủ thường, như ai đắp lên mặt anh một cái chăn ướt. Anh véo tay, uống nước, đứng dậy đi lại. Rồi anh ngồi xuống chiếu, lưng tựa vách. Rồi anh không biết gì nữa.

Anh tỉnh vì lạnh.

Cái lạnh như nằm giữa ruộng nước tháng Chạp. Chăn trên người anh ướt đẫm. Đèn pin bên gối đã tắt. Bên ngoài tiếng máy bơm không còn.

Anh mò được đèn pin, bấm. Không sáng. Bấm lần nữa. Ánh sáng vàng yếu ớt loé lên, rung rung như nến.

Tấm bia không còn nằm úp.

Nó nằm ngửa, trên ba lớp bao tải, mặt chữ hướng lên mái ngói. Đinh Thị Nghệ. Sinh năm Đinh Dậu. Đường viền bông lúa. Con chim sẻ. Mặt đá ướt sũng, nước đọng thành vũng nhỏ trong lòng mỗi nét chữ, lấp lánh dưới ánh đèn pin. Một tấm đá tám mươi phân mà anh với vợ khiêng còn lảo đảo, đã bị lật ngửa ngay cạnh chỗ anh ngủ, và anh không nghe thấy một tiếng động nào.

Anh rọi đèn xuống nền đất.

Trên lớp bụi đá trắng, có dấu chân. Dấu chân trần, nhỏ, ướt, như chân một người đàn bà gầy hay một đứa con gái mới lớn. Ngón chân cái hơi choãi ra. Những dấu chân đi từ phía tấm bia, vòng quanh chiếu của anh một vòng, chậm, như người đứng nhìn anh ngủ. Rồi chúng đi thẳng tới bức tường dưới cửa sổ, và dừng lại ở đó. Không quay lại.

Khuông leo lên bàn đục, rọi đèn qua song sắt ra ngoài ngõ.

Sương dày. Trên mặt đất ngoài ngõ, lớp sương đêm đọng trên cỏ may bị giẫm thành một vệt sẫm. Từng dấu chân một, cách nhau đều đặn, nối dài ra phía cuối ngõ, nơi con đường đất rẽ về hướng Vũng Chàm.

— Hết chương 4 —

Mục lục Tấm bia đá xanh đục tay trái

  1. 1Phong bì ướt trên bàn đục9 phút
  2. 2Nét đục nghiêng về bên trái10 phút đọc
  3. 3Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm10 phút đọc
  4. 4Úp mặt đá xuống10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ ở bờ tây10 phút đọc
  6. 6Người đục đá lúc hai giờ sáng10 phút đọc
  7. 7Chiều mưa năm Nhâm Tý10 phút đọc
  8. 8Cái tên đi mượn9 phút đọc
  9. 9Chữ cuối cùng10 phút đọc
  10. 10Đêm mười bốn9 phút đọc
  11. 11Con chim sẻ đá9 phút đọc

Về truyện này

Tấm bia đá xanh đục tay trái là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →