Chương 5: Ngôi mộ ở bờ tây
Khuông đi theo dấu chân khi trời còn chưa sáng.
Anh không gọi ai. Anh mặc áo bông, đội mũ len, cầm đèn pin, mở xích cửa xưởng, đi vòng ra ngõ. Ngoài ngõ sương trắng đặc, đèn pin rọi vào chỉ thấy một quầng sáng đục như rọi vào sữa. Anh phải cúi sát xuống mới thấy những dấu chân trên cỏ may đọng sương, cách nhau đều đặn, mỗi bước chừng một gang rưỡi. Bước của người không vội.
Dấu chân đi ra cuối ngõ, rẽ vào con đường đất giữa hai bờ ruộng. Trên đường đất thì khó thấy hơn, chỉ còn những vệt nước sẫm trên mặt đất khô. Rồi lại rõ khi xuống bờ ruộng, nơi gốc rạ còn ướt sương. Chúng không đi về phía giàn máy bơm, không đi về phía lán của anh Chiến. Chúng vòng sang bờ tây Vũng Chàm, men theo mép vành đá vôi trắng, lên gò cỏ tranh.
Đến chân gò thì trời bắt đầu sáng. Sương vẫn dày nhưng đã chuyển sang màu xám bạc. Tiếng máy bơm ì ầm phía bên kia vũng. Anh leo lên gò, cỏ tranh ướt quất vào ống quần lạnh buốt.
Trên gò có bảy nấm mộ. Anh đếm. Mộ đất, thấp, cỏ phủ kín, có cái đã sụt gần bằng mặt đất. Trước mỗi nấm mộ cắm một cái cọc tre mới, sơn đỏ ở đầu, đánh số từ một đến bảy. Cọc của công ty, cắm để bốc mộ ngày rằm.
Dấu chân dừng ở nấm mộ số bốn.
Nấm mộ ấy nhỏ hơn những cái khác. Dài chừng mét hai, mét ba, như mộ một đứa trẻ hay một người con gái nhỏ người. Phía đầu mộ có một tấm đá xanh nhỏ, chìm gần hết trong đất, chỉ nhô lên một gờ phủ kín rêu xanh thẫm. Cỏ quanh đó bị giẫm rạp thành một vòng tròn. Và từ chỗ ấy, dấu chân không quay lại. Chúng đi tiếp xuống phía mép nước, xuống tận vành đá vôi trắng, rồi biến mất ở chỗ mặt nước đã rút đi.
Khuông quỳ xuống trước tấm đá.
Anh lấy tay cào lớp đất quanh nó. Đất mềm, ẩm, mùi ngai ngái. Tấm đá cao chừng bốn mươi phân, rộng ba mươi, loại bia nhỏ người ta làm cho mộ trẻ con hoặc người chết trẻ. Anh lấy vạt áo lau rêu. Rêu bám dày, phải lấy móng tay cạy từng mảng.
Chữ hiện ra từng nét một.
ĐINH THỊ GỪNG.
Sinh năm Đinh Dậu.
Mất ngày 14 tháng 10 năm Nhâm Tý.
Anh ngồi bệt xuống cỏ ướt. Anh nhìn tấm đá rất lâu, không phải vì không hiểu chữ, mà vì nhận ra nét đục. Nét thẳng, đáy chữ V cân hai thành. Nét móc của chữ G cuộn lại một vòng nhỏ ở cuối, kiểu móc mà cả làng chỉ nhà anh đục. Anh học kiểu móc ấy năm mười hai tuổi, đến giờ vẫn đục y như thế trên mọi tấm bia.
Tấm bia này do cha anh khắc.
Năm Nhâm Tý. Anh tính nhẩm. Năm nay là Bính Ngọ. Nhâm Tý là năm 1972. Năm mươi tư năm trước. Cha anh lúc ấy hai mươi mốt tuổi.
Và cái người tên Gừng nằm dưới tấm đá này sinh năm Đinh Dậu, cùng năm với bà giáo Nghệ. Mất ngày mười bốn tháng Mười, đúng cái ngày ghi trong mảnh giấy mực tím.
Trước tấm bia nhỏ, chỗ anh vừa cào đất, có mấy chân hương cũ. Anh nhặt lên. Chân hương tre đã mục, lớp sơn đỏ bạc thếch, cắm thành một bó nhỏ. Bên dưới, lớp chân hương cũ hơn nữa, đen sì, mủn ra khi chạm tay. Có người vẫn thắp hương cho nấm mộ này. Không phải năm một năm hai. Nhiều năm. Có khi là năm nào cũng thắp, một lần, vào một ngày nhất định, rồi đi, không để ai biết.
Anh đứng dậy. Sương bắt đầu tan. Bên kia vũng, giàn máy bơm hiện ra lờ mờ. Anh Chiến đứng trên giàn, nhìn sang phía anh, tay che mắt.
Khuông về làng qua lối nhà văn hoá thôn.
Cái bảng tin dựng ở sân nhà văn hoá dán một tờ thông báo đánh máy của công ty, có đóng dấu xác nhận của uỷ ban xã. Thông báo di dời bảy ngôi mộ trong khu đất ven Vũng Chàm phía tây, kèm sơ đồ và danh sách. Bảy dòng. Dòng nào cũng ghi "Không rõ danh tính, không có thân nhân đăng ký". Hạn nhận mộ: hết ngày mười bốn tháng Mười âm lịch. Ngày bốc: mười lăm tháng Mười.
Mộ số bốn: không rõ danh tính. Có lẽ người khảo sát đi qua chỉ thấy một gờ đá phủ rêu, không ai cào ra xem.
Anh đứng trước tờ thông báo thì có người gọi.
– Thằng Khuông đấy à?
Bà Sáu Cống, người bán tép, đi chợ về ngang, quẩy đôi quang gánh. Bà tám mươi mốt tuổi, lưng còng, nhưng tai thính, mắt tinh, cả làng có chuyện gì bà biết đầu tiên. Mấy hôm nay thấy anh bà còn tránh. Sáng nay chắc vì sương, vì vắng người, bà đặt gánh xuống.
– Bà Sáu ơi, – anh hỏi, – nhà bà giáo Nghệ ngày xưa có ai tên Gừng không bà?
Bà Sáu nhìn anh như nhìn ma.
– Ai bảo mày cái tên ấy?
– Cháu thấy trên tấm bia ở gò mộ bờ tây.
Bà Sáu nhìn quanh, rồi kéo anh vào hiên nhà văn hoá, nơi không ai đi qua.
– Nhà ấy có hai đứa con gái sinh đôi. – Bà nói nhỏ. – Cái Nghệ với cái Gừng. Giống nhau như hai hạt đỗ, cả làng không ai phân biệt được, đến bà mẹ có lúc còn gọi nhầm. Năm bảy hai, mười lăm tuổi, cái Gừng chết đuối ở Vũng Chàm. Một chiều mưa tháng Mười. Người ta vớt lên, mặt tím ngắt. Bà mẹ nó gào cả đêm. Rồi từ hôm chôn xong, bà ấy cấm cả nhà nhắc đến tên con bé. Ai nhắc là bà ấy chửi. Dần dà cả làng quên. Tao già rồi mới còn nhớ.
– Sao lại chôn ở bờ tây hả bà, mà không đưa vào nghĩa trang làng?
– Chết đuối, chết trẻ, ngày xưa người ta kiêng. – Bà Sáu nói. – Với lại bà mẹ không cho đưa đi xa. Bà ấy bảo nó chết ở đấy thì cho nó nằm ở đấy. Ông bố thì đi bộ đội, chưa về. Đến lúc ông ấy về thì đã thành chuyện cũ.
Bà nhấc gánh lên vai, đi được mấy bước, quay lại.
– Mà sao tự nhiên mày hỏi chuyện ấy? Cái bia mày khắc là cho cái Nghệ, đúng không? – Bà nheo mắt. – Tao bảo mày một câu. Hai đứa sinh đôi, một đứa đi trước, thì đứa ở lại phải sống luôn cả phần của đứa kia. Người xưa bảo thế. Sống cho đủ hai phần thì mới yên.
Khuông về đến nhà thì ông Hạp đã dậy, ngồi ở ghế mây trong xưởng, như mọi buổi sáng trước kia. Ông nhìn tấm bia đang nằm ngửa trên bao tải, nhìn những dấu chân khô trên nền đất, không nói gì. Khuông kéo cái ghế đẩu ngồi đối diện cha.
– Con ra gò bờ tây rồi.
Ông Hạp không ngạc nhiên. Chừng như ông đã chờ câu ấy từ hôm qua.
– Thấy rồi à?
– Bia cha khắc. Đinh Thị Gừng.
Ông gật.
– Cha kể cho con nghe đi.
Ông Hạp lấy cái điếu cày dựa ở chân ghế, nhồi thuốc, châm lửa. Tay ông run, phải ba lần mới châm được. Ông rít một hơi dài, tiếng điếu kêu sòng sọc. Ông nhả khói, nhìn khói tan.
– Năm ấy tao hai mốt. Học nghề với ông nội mày được sáu năm. – Ông nói. – Cái Gừng chết đuối ở Vũng Chàm chiều mười bốn tháng Mười. Bà mẹ nó thuê tao khắc bia. Tao khắc. Thế thôi.
– Thế thôi?
– Thế thôi. – Ông gõ điếu xuống chân ghế. – Năm mươi tư năm rồi. Bây giờ người ta bơm cạn cái vũng nó nằm, người ta sắp bốc nó đi. Nó không chịu. Nó về gọi chị nó.
– Gọi để làm gì?
Ông Hạp nhìn con trai. Mắt ông đục, đỏ ngầu.
– Hai đứa sinh đôi, một đứa đi một mình năm mươi tư năm. Mày bảo nó gọi để làm gì?
Khuông nhìn tấm bia nằm ngửa, nghĩ đến dòng chữ mực tím chưa ai khắc. Mất ngày mười bốn tháng Mười. Không ghi năm. Ngày giỗ của đứa em, ngày đứa chị sẽ đi theo. Sáu ngày nữa.
– Phải làm gì hả cha?
– Không biết. – Ông nói. – Đừng khắc thêm chữ nào lên tấm ấy. Ngày rằm người ta bốc nó đi, đưa về nghĩa trang xã. Có khi nó yên.
Anh muốn hỏi nữa. Ông Hạp đã đứng dậy, chống gậy vào nhà. Đến ngưỡng cửa, ông dừng lại như mọi lần, như mỗi lần ông còn một câu chưa nói. Nhưng lần này ông không nói gì. Ông đi vào.
Chiều muộn, Khuông cầm một bó hương với bao diêm ra gò bờ tây.
Anh không biết mình ra đấy làm gì. Anh chỉ biết không thể ngồi yên. Mặt trời đã lặn sau dãy núi đá vôi, trời màu tro, gió đông bắc thổi rạp cỏ tranh. Anh Chiến trong lán bên kia vũng thấy anh, không gọi.
Anh quỳ trước mộ số bốn, châm ba nén hương, cắm vào cái bó chân hương cũ. Gió to, phải lấy lưng che mới giữ được lửa.
– Nếu em là Gừng, – anh nói, giọng nhỏ, thấy mình buồn cười mà không cười được, – thì em tha cho chị em. Bà ấy già rồi. Bà ấy dạy chữ cho cả làng này. Em muốn gì thì em bảo anh.
Không có gì trả lời. Chỉ có tiếng máy bơm và tiếng gió. Nhưng ba sợi khói hương, đáng lẽ phải bạt theo gió về phía làng, lại cùng nghiêng về một phía khác. Chúng ngả hẳn xuống, bò sát mặt cỏ, chảy về phía mép nước, như bị cái vũng đang cạn kia hút vào.
Anh ngồi nhìn đến khi hương tàn.
Về đến xưởng thì trời tối hẳn. Anh không ăn. Lành gọi điện từ nhà ngoại, anh bảo mọi chuyện ổn. Anh nhìn sợi xích chuồng trâu cuộn trên bàn. Khoá xích, khoá hai lần, ngủ ngay cạnh tấm bia, mà tấm đá vẫn lật, dấu chân vẫn đi.
Anh không khoá nữa. Khoá để làm gì, khi thứ đi vào đây không cần cửa.
Anh về nhà, nằm xuống chiếc giường đã vắng vợ con, kéo chăn trùm kín đầu. Lần đầu tiên sau gần một tuần, anh ngủ được một giấc sâu, không mộng mị.
Điện thoại rung lúc hai giờ năm phút sáng.
Màn hình hiện tên anh Thiều. Khuông bật dậy, bấm nghe. Bên kia không có lời chào, chỉ có tiếng thở dồn dập, tiếng chó sủa, tiếng gió.
– Khuông! Mẹ tao có sang bên mày không?
– Không, anh. Sao thế?
– Mẹ tao không có trên giường. – Giọng anh Thiều vỡ ra. – Cửa nhà mở toang. Dép mẹ tao vẫn để ở bậc thềm. Mẹ tao đi chân đất ra ngoài, giữa đêm, giữa rét thế này. Tao tìm khắp vườn rồi. Không thấy đâu cả.
Khuông nhìn qua cửa sổ, sang phía xưởng.
Cửa xưởng mà anh không khoá đã mở. Và bên trong, từ khe cửa, hắt ra một vệt sáng trắng của đèn tuýp mà anh nhớ chắc chắn đã tắt.
— Hết chương 5 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe