AI Truyện

🕯️ Truyện ma kinh dị

Phong bì ướt trên bàn đục

Tấm bia đá xanh đục tay trái · Chương 1/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc🎧 9 phút · giọng Bảo Tín

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Cái phong bì nằm giữa bàn đục, ướt sũng…
  2. 2:06Có người gửi tiền đặt bia.
  3. 2:54Khuông đưa mảnh giấy. Ông Hạp đeo kính, giơ…
  4. 4:12Đặt sẵn thì không ghi ngày mất. – Ông…
  5. 5:20Bà nhìn áo anh. Ống tay áo bám đầy…
  6. 6:53Ông cụ dạo này thế nào? – Hoạch hỏi,…
  7. 7:52Tối hôm ấy, lúc bé Mí đã ngủ, Lành…
  8. 9:30Khuông nằm xuống cạnh vợ con, nhắm mắt. Anh…

Chương 1: Phong bì ướt trên bàn đục

Cái phong bì nằm giữa bàn đục, ướt sũng như vừa vớt dưới nước lên, trong khi cửa xưởng khoá từ chiều và cả đêm qua trời không rơi một hạt mưa.

Khuông đứng ở ngưỡng cửa một lúc lâu, tay còn cầm chùm chìa khoá. Sáu giờ sáng mùng Hai tháng Mười, sương từ chân núi đá vôi tràn xuống làng Xuân Thạch, trắng đặc, đứng cách năm bước đã không nhìn rõ mặt người. Trong xưởng mùi bụi đá nguội và mùi dầu máy mài. Ba tấm bia đá xanh đang làm dở dựng dọc vách, phủ bao tải. Mọi thứ vẫn đúng chỗ anh để tối qua, chỉ có cái phong bì là lạ.

Anh đến gần. Phong bì giấy vàng loại người ta bỏ tiền mừng cưới, dán hồ, mặt ngoài không ghi gì. Nước từ nó rỉ ra, loang thành một vệt sẫm trên mặt bàn gỗ lim mà ông nội anh đóng từ thời Pháp, cái bàn kê sát ô cửa sổ có song sắt nhìn ra ngõ. Anh cúi xuống ngửi. Không phải mùi nước mưa. Là mùi rêu, mùi nước đọng lâu trong hố đá, cái mùi tanh tanh lành lạnh anh vẫn ngửi thấy mỗi lần đi ngang Vũng Chàm sau làng.

Khuông bóc phong bì. Bên trong là sáu tờ năm trăm nghìn, gấp làm đôi, ướt nhưng còn nguyên. Kẹp giữa xấp tiền là một mảnh giấy xé từ quyển vở học trò, loại giấy ngả màu cháo lòng, có dòng kẻ ô li đã mờ. Chữ viết bằng mực tím. Nước làm mực nhoè ở mép, nhưng phần giữa còn đọc được:

"Nhờ chú khắc giúp một tấm bia đá xanh. Chữ đục tay, không dùng máy. Đinh Thị Nghệ. Sinh năm Đinh Dậu. Mất ngày mười bốn tháng Mười. Xin xong trước đêm mười bốn."

Không có tên người đặt, không số điện thoại. Chữ viết đẹp, kiểu chữ người học trường làng thời trước, nhưng lạ ở chỗ nét nào cũng ngả ngược về bên trái, như hàng tre bị gió đông bắc quật nghiêng.

Anh đọc đi đọc lại cái tên. Đinh Thị Nghệ. Ở làng Xuân Thạch chỉ có một bà Nghệ, bà giáo Nghệ dạy lớp một ở trường làng ba mươi năm, giờ về hưu ở với con trai trong căn nhà mái bằng sát lối ra Vũng Chàm. Hôm kia anh còn thấy bà đạp xe ra chợ mua mớ tép.

– Sớm thế đã đứng ngây ra đấy làm gì?

Lành bưng nồi cám lợn đi ngang sân, nói vọng vào. Khuông nhét mảnh giấy vào túi áo, cầm xấp tiền ra.

– Có người gửi tiền đặt bia.

– Bao nhiêu?

– Sáu triệu.

Lành đặt nồi cám xuống, chùi tay vào vạt áo, đếm lại xấp tiền như sợ chồng đếm sai. Tiền ướt dính vào nhau, chị phải tách từng tờ.

– Sao ướt thế này?

– Không biết. Để trên bàn, cửa vẫn khoá.

– Chắc ai nhét qua khe cửa sổ từ đêm, sương xuống ướt. – Chị nói nhanh, như người đã quyết không để chuyện gì cản đường sáu triệu. – Bia của ai?

Khuông chưa kịp đáp thì nghe tiếng dép lê kéo trên nền gạch. Ông Hạp chống gậy từ gian trong ra, tay trái run lẩy bẩy bám vào khung cửa. Bảy mươi lăm tuổi, ông đã bỏ đục được tám năm, từ hồi cái tay bắt đầu run không cầm nổi búa. Nhưng sáng nào ông cũng ra xưởng ngồi ở chiếc ghế mây cạnh bàn mài, nhìn con trai làm, thỉnh thoảng chỉ một câu.

– Bia ai? – ông hỏi lại câu của con dâu.

Khuông đưa mảnh giấy. Ông Hạp đeo kính, giơ tờ giấy ra xa, nheo mắt. Anh thấy ông đọc rất lâu, lâu hơn thời gian cần để đọc bốn dòng chữ. Rồi bàn tay đang run của ông bỗng đứng im, im một cách lạ lùng, như có ai đè lên.

– Ai đưa cái này?

– Con không biết. Sáng ra thấy trên bàn.

Ông Hạp gấp mảnh giấy lại, gấp rất chậm, đúng theo nếp cũ. Ông đưa trả cho con trai mà không nhìn vào mặt anh.

– Không nhận.

– Sao lại không nhận hả ông? – Lành kêu lên. – Người ta trả đủ cả rồi kia mà.

– Bà Nghệ còn sống. – Ông nói, giọng khàn. – Nhà mình không khắc tên người sống. Đá đã khắc tên thì phải có người nằm dưới. Ông nội mày dặn tao, tao dặn mày. Mày quên rồi à?

Khuông không quên. Lúc mười hai tuổi, ngày đầu tiên được cầm cái đục nhỏ, anh đã nghe câu ấy. Cùng với hai điều nữa: bia khắc xong mà chưa dựng thì úp mặt xuống đất, và không bao giờ đục chữ khi trong lòng đang giận. Người làng thì còn một câu nữa, câu mà ai đi đám ma cũng nghe: thợ đá phải khắc ngày mất cho người ta, vì người chết không tự khắc được ngày chết của mình. Hồi đó anh nghĩ toàn là chuyện thợ già dọa trẻ con cho cẩn thận. Hai mươi hai năm cầm đục, anh vẫn giữ, không phải vì tin, mà vì quen.

– Có khi người ta đặt trước. – Lành nói. – Nhiều nhà vẫn làm sẵn cho ông bà già đấy thôi. Nhà ông Tộ đầu làng còn đặt quan tài sẵn để trong bếp.

– Đặt sẵn thì không ghi ngày mất. – Ông Hạp đáp. – Đứa nào đặt bia ghi sẵn ngày mất cho người đang sống, là đứa ấy muốn người ta chết.

Ông quay vào nhà. Tiếng gậy gõ xuống nền gạch đều đều. Đến ngưỡng cửa, ông dừng lại, không quay đầu.

– Cái chữ ấy viết bằng tay trái.

Rồi ông đi vào, kéo cánh cửa gỗ khép lại sau lưng.

Khuông lấy mảnh giấy ra nhìn lần nữa. Nét chữ ngả ngược. Anh chưa từng để ý chữ người thuận tay trái thì trông thế nào. Anh chỉ biết cha anh, người cả đời làm chữ trên đá, chưa bao giờ nói một câu thừa.

Chợ Xuân Thạch họp ở bãi đất trước đình, sáng sớm, tan trước khi mặt trời lên khỏi núi. Khuông đi chợ thay vợ mua mấy cân gạo, nhưng thật ra là để đi ngang hàng tép.

Bà Nghệ ngồi xổm trước rổ tép của bà Sáu Cống, mặc áo bông màu cà phê sữa, quàng cái khăn len xanh. Bà sáu mươi chín tuổi mà lưng còn thẳng, tóc búi gọn, kẹp cái kẹp nhựa đen. Học trò cũ của bà khắp làng, kể cả Khuông. Năm lớp một bà dạy anh tập viết, cầm tay anh uốn từng nét móc. Bà hay nói một câu mà đến giờ anh vẫn nhớ: "Chữ có thẳng thì người mới thẳng."

– Khuông đấy à? – Bà ngẩng lên. – Dạo này xưởng bận không con?

– Dạ, cũng lai rai cô ạ.

Bà nhìn áo anh. Ống tay áo bám đầy bụi đá trắng, thứ bụi giặt mấy cũng không sạch.

– Bụi đá từ sáng sớm. Khắc bia cho ai mà sớm thế?

Câu hỏi bình thường. Người làng hỏi thợ đá câu ấy cũng như hỏi người đi chợ mua gì. Vậy mà Khuông thấy cổ họng khô lại. Anh nhìn bàn tay bà đang nhặt tép, tay phải, ngón trỏ có vết chai đỏ của người cầm phấn ba mươi năm.

– Dạ, cho một nhà bên kia núi.

Bà gật, trả tiền tép, đứng dậy. Bà không hỏi thêm. Nhưng lúc đi ngang anh, bà dừng lại, kéo cái khăn len lên che cằm, và nói nhỏ, như nói với chính mình:

– Năm nay rét sớm. Vũng Chàm cạn thì rét lắm.

Anh định hỏi bà nói vậy là sao, thì bà đã dắt xe đạp đi mất vào trong sương.

Công ty đá bắt đầu bơm Vũng Chàm từ hôm mùng Một. Cả làng ai cũng biết. Vũng Chàm là cái hố mỏ đá cũ bỏ từ trước giải phóng, nước mưa và nước mạch đổ vào mấy chục năm thành cái vũng sâu xanh như chàm, sâu đến đâu không ai biết. Trẻ con bị cấm tắm ở đó. Năm nào cũng có người kể chuyện chiều tối ra vũng thấy bóng người đứng dưới nước. Bây giờ công ty mua lại mảnh đất ven vũng, phần lớn của nhà anh Thiều con trai bà Nghệ, định bơm cạn, san lấp làm bãi tập kết đá. Hai cái máy bơm diesel đặt ở bờ, chạy suốt ngày đêm, tiếng máy ì ầm vọng vào tận trong làng.

Khuông về đến xưởng thì Hoạch đã đứng chờ ở cổng. Hoạch bằng tuổi anh, ngày bé hai đứa cùng học nghề ông Hạp, cùng bị ông gõ thước vào đầu ngón tay vì đục lệch nét. Ba năm trước Hoạch bỏ đục tay, vay tiền mua máy khắc laser, mở xưởng ngay đầu làng. Máy của Hoạch khắc một tấm bia trong bốn mươi phút, ảnh người chết in lên đá rõ như ảnh thẻ. Khách kéo hết về bên ấy.

– Ông cụ dạo này thế nào? – Hoạch hỏi, rút bao thuốc mời.

– Vẫn thế.

– Tao sang hỏi mày chuyện khối đá. – Hoạch bật lửa, rít một hơi. – Thằng chủ mỏ bảo mày còn nợ nó hai mươi bảy triệu tiền ba khối đá xanh từ hồi tháng Bảy. Nó nhờ tao nhắn. Cuối tháng mà không trả thì nó cho người xuống lấy lại đá.

Khuông không đáp. Hai mươi bảy triệu. Ba khối đá ấy anh mua về khi có một nhà bên xã kia đặt cả khu lăng mộ, rồi họ đổi ý, chuyển sang bên Hoạch vì bên Hoạch làm nhanh hơn, rẻ hơn, lại khắc được ảnh. Đá nằm đó, tiền thì chưa có.

– Mày cứ sang làm với tao. – Hoạch nói, giọng không có ý xấu. – Tay mày đẹp nhất làng, ai chẳng biết. Nhưng bây giờ người ta không cần đẹp, người ta cần nhanh. Mày cứ giữ cái lối của ông cụ thì chết đói.

– Có người vừa đặt một tấm đục tay. – Khuông nói, rồi thấy hối hận ngay.

– Ai mà còn đặt đục tay?

– Không biết.

Hoạch nhìn anh một lúc, cười, vỗ vai anh rồi đi. Khuông đứng nhìn theo, tay vẫn nắm mảnh giấy ướt trong túi áo.

Tối hôm ấy, lúc bé Mí đã ngủ, Lành ngồi bên mép giường đếm lại tiền. Chị đã hong sáu tờ năm trăm lên dây phơi trong bếp, giờ chúng khô, cong queo.

– Anh cứ khắc đi. – Chị nói, không nhìn anh. – Ông cụ già rồi, ông cụ nói theo lối cũ. Ai đặt thì kệ người ta, mình làm thợ, người ta trả tiền thì mình làm. Bà Nghệ đâu phải người duy nhất tên Nghệ trên đời. Biết đâu là bà Nghệ nào bên kia núi.

– Đinh Thị Nghệ, sinh năm Đinh Dậu. Bà giáo Nghệ cũng sinh năm Đinh Dậu.

– Thì sao? Cả nước bao nhiêu người sinh năm Đinh Dậu tên Nghệ? – Chị quay lại. – Hai mươi bảy triệu tiền đá, anh tính sao? Tiền học của cái Mí tháng sau, anh tính sao? Bên anh Hoạch người ta bảo anh dở hơi, anh nghe chưa?

Khuông không cãi. Anh ra xưởng.

Anh chọn khối đá xanh nhỏ nhất trong ba khối nợ, cưa ra một tấm bia cao tám mươi phân, rộng năm mươi, mặt đã mài phẳng từ tháng Tám. Đá xanh Xuân Thạch hạt mịn, đục vào mát tay, có tiếng kêu trong như gõ vào bát sứ. Anh bật đèn tuýp, kẻ ô bằng bút chì, viết mẫu chữ. Dòng đầu, chữ to, kiểu chữ chân phương cha anh dạy: ĐINH THỊ NGHỆ.

Anh tự nhủ đây là một bà Nghệ nào đó bên kia núi. Anh tự nhủ người đặt bia chỉ quên ghi năm mất, ghi năm sau thì khắc thêm. Anh tự nhủ sáu triệu là sáu triệu.

Đến gần mười một giờ, dòng tên đã xong. Từng nét đục đều, đáy chữ hình chữ V sắc như lưỡi dao, ánh đèn rọi vào thành một đường bóng mảnh. Anh thổi bụi, lấy tay xoa lên mặt chữ. Đá lạnh hơn bình thường. Lạnh như vừa nhấc từ dưới nước lên.

Anh tắt đèn, khoá cửa xưởng, khoá cả cái ổ khoá thứ hai ở then trên. Bên ngoài tiếng máy bơm Vũng Chàm vẫn ì ầm, đều như tiếng người già thở.

Khuông nằm xuống cạnh vợ con, nhắm mắt. Anh không biết mình ngủ được bao lâu. Anh chỉ biết lúc mở mắt ra thì trời còn tối mịt, tiếng máy bơm đã tắt, và từ phía xưởng, qua một cái sân và hai lớp cửa khoá, vọng sang tiếng đục đá.

Cạch. Cạch. Cạch.

Từng nhát một, chậm, đều, đúng nhịp tay của một người thợ đang đục chữ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Tấm bia đá xanh đục tay trái

  1. 1Phong bì ướt trên bàn đục9 phút
  2. 2Nét đục nghiêng về bên trái10 phút đọc
  3. 3Tiếng máy bơm ở Vũng Chàm10 phút đọc
  4. 4Úp mặt đá xuống10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ ở bờ tây10 phút đọc
  6. 6Người đục đá lúc hai giờ sáng10 phút đọc
  7. 7Chiều mưa năm Nhâm Tý10 phút đọc
  8. 8Cái tên đi mượn9 phút đọc
  9. 9Chữ cuối cùng10 phút đọc
  10. 10Đêm mười bốn9 phút đọc
  11. 11Con chim sẻ đá9 phút đọc

Về truyện này

Tấm bia đá xanh đục tay trái là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →