Chương 3: Ghế đá thứ ba, năm giờ sáng
Mạ không xé tờ phiếu.
Đêm tháng Ba năm đó, mạ ngồi ở bàn học của Trâm Anh đúng mười phút, không nói một câu. Rồi mạ gấp tờ phiếu làm đôi, bỏ lại vào cặp, kéo khóa, đứng dậy đi rửa chén. Nước chảy trong bếp rất lâu. Trâm Anh đứng giữa nhà, tóc còn nhỏ nước, không dám đi theo.
Sáng hôm sau, lúc cô dắt xe ra khỏi kiệt, mạ đang ngồi nhặt rau muống ở bậc cửa. Mạ nói mà không ngẩng lên:
– Nộp đi. Rớt thì sang năm thi y.
Trâm Anh không rớt. Cuối tháng Bảy năm 2012, điểm thi về, cô được hai mươi bốn điểm rưỡi, dư gần ba điểm so với điểm chuẩn ngành khí tượng năm trước. Con Hằng hét lên trong điện thoại. Cô Lành ghi tên cô lên tấm bảng học trò đậu đại học treo ở cửa thư viện, viết bằng phấn màu, chữ "khí tượng" cô Lành viết sai thành "khí tựơng", dấu móc đặt lệch, rồi để nguyên đó suốt mùa hè.
Mạ nghe tin ở chợ, giữa lúc đang múc cháo cho khách. Một bà khách đọc tên cô trên tờ báo tỉnh, đưa cho mạ coi. Tối đó mạ về sớm, nấu một nồi chè đậu ván, món ba cô thích. Mạ không nói gì về chuyện y khoa nữa. Mạ chỉ hỏi:
– Học khí tượng ra thì làm chi?
– Dự báo thời tiết mạ.
– Rứa là cái cô đứng trên ti vi chỉ tay vô bản đồ hả?
– Không phải mạ. Cô đó đọc thôi. Người làm dự báo ngồi ở trong, tính.
– Tính chi?
– Tính bão mấy giờ vô. Mưa bao nhiêu. Gió cấp mấy.
Mạ gật gật, gắp cho cô một miếng cá. Một lúc lâu, mạ nói, nhỏ như nói với cái mâm cơm:
– Rứa thì cũng được người ta cảm ơn.
Vọng cũng đậu. Hàng hải ở Hải Phòng, ngành điều khiển tàu biển, hai mươi hai điểm. Nó báo tin cho Trâm Anh bằng cách đi vào thư viện, mượn cuốn "Bản đồ trời cho người mới bắt đầu" lần thứ tư trong ba năm, đợi cô Lành đóng dấu xong mới nói:
– Cô ghi thêm tên con lên bảng nghe cô.
Cô Lành ghi. Chữ "Hàng hải" cô viết đúng.
Hai đứa có hơn một tháng. Trâm Anh nhập học ngày sáu tháng Chín, phải ra Hà Nội trước hai ngày để tìm chỗ trọ. Vọng nhập học muộn hơn một tuần. Suốt tháng Tám, buổi sáng cô phụ mạ bán cháo canh ở chợ, buổi chiều đạp xe qua cầu, ngồi với Vọng ở cái quán tre đầu đường cái bên Bảo Ninh. Ông Hiên đã đi biển với cái máy ghe mới, chuyến dài đầu tiên, ra khơi từ hai mươi tám tháng Tám. Vọng nghỉ hè ở nhà phụ mạ phơi cá, tay nó lúc nào cũng có mùi muối.
Có những buổi chiều hai đứa không nói gì nhiều. Vọng chỉ cho cô những thứ nó thấy trên trời. Mây tích dựng đứng như cái bông cải là chiều có giông. Gió đổi từ nam qua đông nam là đêm mát. Có lần nó giơ nắm tay ra trước mặt, đo từ mặt biển lên tới một ngôi sao vừa hiện.
– Mấy nắm?
– Hai nắm rưỡi, – cô đáp, giơ tay theo.
– Hai lăm độ. – Nó gật đầu. – Bạn ra Hà Nội, trời ngoài đó lệch đi một chút. Sao nằm thấp hơn. Mình vẽ cho bạn cái bản đồ trời Hà Nội.
– Bạn vẽ được hả?
– Tính được thì vẽ được.
Ngày một tháng Chín, hai đứa hẹn nhau. Cái hẹn đó Vọng nói ra ở quán tre, lúc bà cụ chủ quán đã dọn hàng, giọng nó nhỏ hơn mọi khi.
– Bữa bạn đi, tàu mấy giờ?
– Sáu giờ năm mươi. Mạ đưa ra ga.
– Rứa năm giờ bạn ra bờ kè được không. Chỗ ghế đá thứ ba, ngó qua Bảo Ninh. Tháng ni sao Mai lên sớm, năm giờ còn thấy.
– Được.
– Mình có cái ni đưa bạn.
– Cái chi?
– Thì bữa đó biết.
Cô không hỏi nữa. Cô đạp xe về qua cầu, gió chiều thổi ngược, cô đạp như đang bay.
Hai giờ chiều ngày ba tháng Chín, đài phát thanh tỉnh đọc tin áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông. Ba giờ, trạm biên phòng cửa Nhật Lệ phát loa gọi tàu thuyền đang hoạt động ngoài khơi tìm nơi trú. Năm giờ chiều, ghe của ông Hiên không trả lời máy bộ đàm.
Vọng biết tin khi đang ngồi ở hiên nhà, dùng thước kẻ và compa của con Nhàn vẽ bản đồ trời trên một tờ giấy roky khổ lớn. Nó đã tính ba buổi tối. Hà Nội ở vĩ độ hai mươi mốt, Đồng Hới mười bảy rưỡi, mọi ngôi sao phương nam sẽ hạ xuống gần bốn độ. Nó đánh dấu sao Mai bằng một ngôi sao nhỏ tô bút đỏ, ghi bên cạnh: "Tháng Chín – tháng Mười hai: phía đông, trước bình minh". Nó đang viết thì chú Tư nhà bên chạy vào sân, dép không kịp xỏ.
– Thắm ơi. Ghe ông Hiên mất liên lạc rồi.
Bà Thắm làm rớt rổ cá xuống đất.
Đêm đó cả xóm biển kéo ra trạm biên phòng. Đàn ông đứng ngoài sân, đàn bà ngồi trong hiên, ai cũng nghe cái máy bộ đàm đặt trên bàn trực, cứ vài phút lại rè lên những tiếng không phải tiếng người. Anh bộ đội trực ban mặc quân phục xanh, giọng rất bình tĩnh, cứ nửa tiếng lại đọc tọa độ cuối cùng của ghe vào máy, gọi các ghe khác trong khu vực. Mưa bắt đầu từ chín giờ. Gió từ biển thổi vào, mái tôn trạm kêu ầm ầm.
Bà Thắm ngồi bệt dưới sàn, hai tay chắp lại, không khóc. Vọng đứng cạnh bàn trực, mắt dán vào cái bản đồ biển dán trên tường. Nó nhìn tọa độ anh bộ đội đọc, nhìn hướng gió trên bảng, tính trong đầu: ghe chết máy thì trôi về hướng tây bắc, mỗi giờ chừng một hải lý rưỡi, sáng mai sẽ ở đâu đó quanh vùng này. Nó nói ra. Anh bộ đội nhìn nó, rồi nhìn bản đồ, rồi cầm bút chì khoanh một vòng.
Mười một giờ đêm, con Nhàn ngủ gục trên cái ghế băng dài trong hành lang. Vọng nhớ ra cái hẹn.
Nó không thể bỏ mạ ở đây. Nó không thể bỏ cái máy bộ đàm. Nó chạy về nhà dưới mưa, ướt từ đầu tới chân, lấy cuốn "Bản đồ trời cho người mới bắt đầu" từ trong cặp, kẹp tờ bản đồ trời Hà Nội đã gấp tư vào giữa, thêm một tờ giấy học trò nó viết từ ba hôm trước, sửa đi sửa lại, giờ không còn thời gian để sửa thêm. Nó bọc cuốn sách vào hai lớp túi ni lông, cột thun, chạy ngược lại trạm.
Nó lay con Nhàn dậy.
– Nhàn. Nghe anh nói. Sáng mai năm giờ, chú Tư đi xe máy qua bên thành phố mua đá. Em đi theo chú. Chú cho em xuống chỗ bờ kè, ghế đá thứ ba tính từ chân cầu. Có chị Trâm Anh ngồi đó. Em đưa cái ni cho chị. Nói anh xin lỗi, anh không ra được. Nói ghe ba có chuyện. Nhớ chưa?
Con Nhàn chín tuổi, mắt díp lại, gật đầu. Nó ôm cái túi ni lông vào ngực, nằm xuống ghế ngủ tiếp.
Năm giờ kém mười lăm sáng, Trâm Anh ngồi ở ghế đá thứ ba bờ kè Nhật Lệ.
Cô nói dối mạ lần thứ hai trong đời, rằng phải ra sớm gặp con Hằng lấy cuốn sổ tay ghi số điện thoại các bạn. Mạ đang lo xếp đồ vào cái thùng các tông, buộc dây ni lông, chỉ dặn sáu giờ phải về. Mưa đêm qua đã tạnh. Mặt sông còn sóng, nước đục ngầu, rác trôi lềnh bềnh. Trời phía đông bị mây che quá nửa, chỉ có một khoảng trống nhỏ sát chân trời bên kia Bảo Ninh.
Cô nhìn vào khoảng trống ấy. Năm giờ mười, sao Mai hiện ra, đúng ở đó, trắng và đứng yên. Cô đưa nắm tay lên đo. Một nắm. Mười độ. Cô không biết đo để làm gì, nhưng cô đo.
Năm giờ ba mươi, mây kéo qua che mất sao Mai. Cô vẫn ngồi.
Trên đường bờ kè, mấy bà đi tập thể dục đi qua, rồi mấy ông đạp xe ba gác chở đá lạnh ra bến cá. Có một chiếc xe máy dừng lại ở đầu cầu bên kia đường, một người đàn ông xuống mua thuốc lá ở cái quầy nhỏ còn đóng nửa cửa, rồi lên xe đi thẳng về phía chợ. Trâm Anh không thấy sau lưng ông ta có một đứa bé gái ngủ gục, hai tay ôm cái túi ni lông, đầu tựa vào lưng áo mưa.
Sáu giờ, mạ gọi vào cái điện thoại cũ mà cô mới được mua để mang ra Hà Nội.
– Con mô rồi? Chú xe ôm tới rồi.
– Con về liền mạ.
Cô đứng dậy. Cô nhìn về phía cầu, nơi con đường từ Bảo Ninh qua. Không có chiếc xe đạp màu xanh lá đã tróc sơn nào. Không có cái đầu tóc dựng như lông nhím nào. Cô ngồi xuống thêm năm phút nữa. Rồi mười phút. Sáu giờ hai mươi, điện thoại reo lần thứ hai, giọng mạ lạc đi.
Trên chuyến tàu sáu giờ năm mươi ra Hà Nội, Trâm Anh ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ga Đồng Hới lùi lại, nhìn mấy mái nhà, nhìn hàng dương mờ xa phía biển. Cô không khóc. Cô thấy mình như vừa đọc một cuốn sách tới trang cuối, lật ra sau bìa, và không thấy tên ai nằm dưới tên mình.
Bảy giờ mười phút, máy bộ đàm ở trạm biên phòng rè lên một giọng người. Một ghe cá của xã bên thấy ghe ông Hiên chết máy, trôi cách vị trí cuối cùng mười một hải lý về phía tây bắc, gần đúng vòng khoanh bút chì trên bản đồ. Ông Hiên gãy chân, hai bạn ghe xây xát, cả ba còn sống. Cái máy mới bị nước tràn vào, ghe đang chìm dần, người ta kéo được người sang mà không kéo được ghe.
Bà Thắm ngã ngồi xuống sàn, lần này thì khóc.
Vọng đứng nghe hết tin, rồi chạy. Nó không lấy xe đạp. Nó chạy bộ qua cầu Nhật Lệ, áo vẫn còn ẩm nước mưa đêm, chạy dọc bờ kè tới ghế đá thứ ba. Không có ai. Nó chạy tiếp ra ga. Cái đồng hồ treo trên tường nhà ga chỉ bảy giờ hai mươi lăm. Sân ga trống trơn, chỉ có một bà cụ quét rác, và hai đường ray sáng loáng chạy về phía bắc, ướt mưa.
Nó đứng ở mép sân ga, thở không ra hơi. Rồi nó nghĩ tới cái túi ni lông. Chí ít thì cô ấy đã có cuốn sách. Chí ít thì cô ấy đã đọc.
Tám giờ, nó về lại trạm biên phòng. Con Nhàn đang ngồi trên ghế băng, ăn ổ bánh mì ai đó cho, mặt còn ngái ngủ. Chú Tư đứng ngoài sân nói chuyện với mấy ông trong xóm.
– Nhàn. Em đưa chị Trâm Anh chưa?
Con Nhàn ngẩng lên, miệng còn ngậm bánh mì, nhìn anh nó như nhìn một người lạ. Hai tay nó trống trơn.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe