AI Truyện
Ông bố cho thuê ở ngõ Văn Chương

🏙️ Đô thị & làm giàu

Nước vối và tiền công một buổi

Ông bố cho thuê ở ngõ Văn Chương · Chương 4/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Nước vối và tiền công một buổi

– Tôi. – Tôi nói.

Ông Tráng nhìn tôi như nhìn một người vừa nói một thứ tiếng lạ. Tôi cúi xuống nhặt đoạn ống thép, đưa lại cho ông. Ông cầm lấy, nhưng không biết để đâu, cứ cầm như thế.

– Tôi làm nghề đóng vai, anh ạ. – Tôi nói tiếp. – Người ta cần người nhà đi họp, đi đám, thì thuê tôi. Cháu Nhàn thuê tôi đóng bố cháu trong ba buổi: dạm ngõ, ăn hỏi, đám cưới. Dạm ngõ xong rồi. Hôm Chủ nhật.

Tôi nói hết một hơi, như đọc tờ khai, vì tôi sợ dừng giữa chừng thì không nói tiếp được nữa.

Ông Tráng ngồi xuống một chồng ghế nhựa đỏ. Chồng ghế lún xuống, kêu cót két. Ông đặt đoạn ống thép lên đầu gối, hai bàn tay úp lên nó. Tôi thấy hai bàn tay ấy: đen, nứt nẻ, móng tay cáu bẩn, ngón cái bên phải có một vết sẹo trắng chạy chéo, và mu bàn tay nổi những đường gân như rễ cây. Bàn tay thợ. Thứ bàn tay mà bà Hảo tìm trên đầu gối tôi hôm Chủ nhật, và không thấy.

– Ông ngồi đi. – Ông Tráng nói, chỉ vào một chồng ghế khác.

Tôi ngồi. Ông với lấy cái can nhựa năm lít để dưới chân thang, rót ra hai cái cốc nhựa thứ nước màu nâu đỏ. Nước vối. Mùi lá vối ủ bốc lên, hăng hắc, ngai ngái, mùi của những sân gạch ở quê ngày hè.

– Tôi không uống rượu. – Ông nói, như giải thích. – Mười tám năm rồi.

– Cháu Nhàn có ghi trong giấy. "Không uống rượu."

Ông cười, một cái cười méo, để lộ cái răng cửa sứt. Mấy chục năm rồi mà nó vẫn sứt nguyên như thế, chưa ai bỏ tiền ra làm lại.

– Nó ghi thế à. – Ông nói. – Nó viết đúng đấy.

Chúng tôi ngồi uống nước vối. Gió sông thổi qua bãi. Một thằng thợ trẻ đi ngang, gọi "Chú Tráng ơi, mai dựng đám xóm Bãi mấy giờ?", ông trả lời "Sáu giờ", rồi lại im.

– Nó có cười không? – Ông hỏi.

Tôi không hiểu.

– Hôm dạm ngõ. – Ông nói. – Nó có cười không?

Tôi kể cho ông nghe chuyện cậu Toàn vào nhà thuốc mua thuốc say xe mà nói nhầm thành thuốc say rượu, cô dược sĩ phải hỏi lại ba lần. Kể đến đoạn Nhàn cười rồi giấu ngay vào sau bàn tay, thì ông Tráng gật đầu, gật mãi.

– Nó cười thế từ bé. – Ông nói. – Cười xong là giấu. Như sợ ai lấy mất.

Rồi ông hỏi về Toàn. Tôi kể: kỹ sư cầu đường, hiền, cao lêu nghêu, mặt đỏ, run tay lúc bắt tay. Ông hỏi về nhà trai. Tôi kể về ông Cự nói như đọc diễn văn, về bà Hảo với cái quạt giấy và ba ô sáng trên tường, về ông Bảo với đôi giày vải cũ. Tôi không kể câu ông Bảo nói ở đầu cầu thang. Câu ấy tôi còn chưa biết xếp vào đâu.

– Bà mẹ ấy sợ mất mặt. – Ông Tráng nói. – Người buôn bán ở chợ đầu mối thì cái mặt là vốn. Mất mặt là mất mối.

– Anh biết chợ đầu mối à?

– Tôi dựng rạp cho người ta mười một năm. – Ông nói. – Đám nào cũng có một bà như thế. Bà ấy đi kiểm từng cái khăn trải bàn, đếm từng cái ghế. Ghế bên nhà gái mà nhiều hơn nhà trai một cái là bà ấy bắt cất đi.

Tôi uống hết cốc nước vối. Ông rót thêm. Tôi biết đến lúc phải hỏi câu khó.

– Anh có muốn gặp cháu không? – Tôi hỏi. – Trước ngày cưới.

Ông Tráng không trả lời ngay. Ông xoay xoay đoạn ống thép trên đầu gối, nhìn xuống nền đất. Ở đó có một con kiến đang tha một hạt cơm rơi từ hộp cơm của bà Vạn.

– Năm tôi ra trại. – Ông nói. – Tôi về đứng trước cổng nhà bà ngoại nó. Nó khoá cửa buồng. Tôi đứng từ trưa đến tối. Trời mưa, tôi vẫn đứng. Bà ngoại nó ra bảo tôi về đi, nó không mở đâu. Tôi về. – Ông ngẩng lên nhìn tôi. – Nó khoá cửa thì tôi đứng ngoài. Thế là công bằng. Tôi không có quyền gõ.

– Nhưng nó lấy chồng.

– Nó lấy chồng thì nó cần một ông bố đứng đấy cho tử tế. – Ông nói, giọng chắc như nện cọc. – Không phải một thằng tù say rượu. Nó chọn ông thì ông làm cho tử tế. Ông làm hộ tôi.

Tôi không đáp. Tôi đã nhận nhiều vai, nhưng chưa bao giờ người thật của vai ngồi trước mặt giao việc cho tôi.

Một lúc sau, ông Tráng đứng dậy, đi về phía cái thang chữ A. Dải voan trắng ông buộc dở vẫn còn lủng lẳng một đầu. Ông vẫy tôi lại gần.

– Ông xem đây. – Ông nói.

Ông cầm đầu voan, vòng hai vòng quanh thanh thép, rồi gập đuôi vải vào trong, luồn qua giữa hai vòng, kéo một cái. Nút vải dẹt, phẳng, hai vòng ôm sát nhau như hai cái cánh, phần đuôi giấu hẳn vào trong, nhìn từ ngoài không thấy chỗ thắt.

– Nút con ong. – Ông nói. – Buộc thế này gió không tuột, mà kéo đúng đầu này thì nó bung ra ngay, không phải cắt. Ngày xưa tôi buộc quai cặp cho nó bằng cái nút này. Cặp nó đứt quai, mẹ nó khâu không kịp, tôi lấy dây dù buộc lại. Nó đeo cái cặp ấy suốt năm lớp ba. Bạn nó đứa nào cũng hỏi nút gì mà đẹp thế.

Ông kéo đầu vải, nút bung ra, dải voan rơi xuống, phấp phới. Ông buộc lại. Tôi đứng xem ông buộc ba lần, rồi tôi thử. Lần đầu tôi làm cái đuôi vải thò ra ngoài. Lần thứ hai thì nút lỏng. Lần thứ ba thì được.

– Ông học nhanh. – Ông nói.

– Nghề tôi là học nhanh. – Tôi nói. – Học nhanh, quên nhanh.

Lúc tôi về, ông tiễn ra tận đầu bãi. Bà Vạn đã ăn xong, đang đếm một xấp tiền lẻ. Ông Tráng móc ví, rút ra một xấp tiền gấp làm tư.

– Ông cầm hộ tôi. – Ông nói. – Mua cái gì cho nó hôm ăn hỏi. Ông bảo là của ông.

Tôi đẩy tay ông lại.

– Chỗ tôi làm có luật: không cầm tiền mừng. – Tôi nói. – Với lại, nếu là của anh, thì tôi không bảo là của tôi được. Cái đó không phải đóng vai nữa, cái đó là ăn cắp.

Ông Tráng nhìn tôi một lúc, rồi cất tiền vào ví.

– Ông lấy bao nhiêu một buổi? – Ông hỏi.

– Hai triệu rưỡi.

– Ăn hỏi hôm nào?

– Mười ngày nữa. Ở một nhà vườn dưới chân núi Ba Vì.

Ông gật, như ghi nhớ một con số.

Đi được mấy bước, tôi nghe ông gọi lại.

– Ông ơi. Hôm Tết, ông có biết tôi đi đâu không?

Tôi quay lại. Ông đứng giữa đám voan trắng đang bay, cái áo bảo hộ màu cam bạc phếch nổi lên như một đốm lửa.

– Tôi về nhà bà Lành. – Ông nói. – Năm nào cũng về. Mang cặp bánh chưng, ít hoa quả. Bảy năm đầu con trai bà ấy không cho tôi vào, tôi để quà ngoài cổng. Năm thứ tám thì nó mở cổng, cho tôi thắp nén hương. Năm ngoái thằng cháu nội bà ấy rót cho tôi chén nước. – Ông ngừng một chút. – Tôi kể để ông biết, người ta mở cửa lâu lắm. Không phải ai cũng mở. Ông đừng làm cái gì để nó phải mở cửa sớm hơn nó muốn.

Tôi về đến Khâm Thiên lúc trời đã tối. Lụa đang ngồi giữa một đống giấy tờ, mắt đỏ kè. Con bé đã chốt được nhà vườn Ba Vì, chốt được đội đỡ tráp mười một cô gái, vì nhà trai báo sang đúng mười một tráp. Rồi chốt cỗ hai mươi mâm, chốt được ba chiếc xe mười sáu chỗ. Tiền cọc đã đặt hết, bằng nửa số tiền Nhàn chuyển.

– Chú đi đâu cả ngày, cháu gọi không được? – Lụa hỏi.

– Đi xem rạp. – Tôi nói.

Lụa không hỏi thêm. Con bé đưa cho tôi một tờ danh sách nhà trai mà Toàn vừa gửi qua tin nhắn để nhà gái xếp chỗ ngồi. Hai mươi hai người. Ông Lương Văn Cự, trưởng đoàn. Ông Lương Văn Bảo, bà Tống Thị Hảo. Chú rể. Rồi cô dì chú bác, anh em họ. Tôi lướt qua từng cái tên như lướt qua một danh sách vai phụ.

Đến dòng thứ mười chín, tôi dừng lại.

"Chú Bính, bạn của mẹ."

Tôi biết hàng nghìn người tên Bính. Nhưng tôi chỉ biết một người tên Bính có thể ngồi được trong đoàn ăn hỏi của một bà buôn vải ở chợ đầu mối mà lại được ghi là "bạn của mẹ" thay vì "chú họ", "bác họ", "dượng".

– Lụa này. – Tôi nói. – Cháu hỏi được Toàn ông Bính này họ gì không?

– Để làm gì hả chú?

– Để xếp chỗ. – Tôi nói.

Lụa nhắn. Nửa tiếng sau, Toàn trả lời: cậu không rõ, ông ấy là người mẹ mới quen, mẹ bảo mời đi cho đông.

Mười ngày sau là lễ ăn hỏi. Sáng hôm ấy trời Ba Vì mưa từ năm giờ. Mưa rừng, hạt to, rơi lộp độp trên mái ngói nhà vườn, nước từ máng xối đổ xuống sân gạch thành từng dòng trắng xoá. Mười một cô gái đỡ tráp mặc áo dài đỏ đứng chen nhau dưới mái hiên chờ. Trong gian giữa, mâm cỗ đã bày, đĩa xôi gấc đỏ au phủ lá chuối. Tôi mặc áo the đen, khăn xếp, cổ tay trái viết lại ba chữ "Vi Đình Tráng", lần này viết nhỏ hơn, lùi vào trong một chút, để tay áo che kín.

Chín giờ, ba chiếc xe mười sáu chỗ của nhà trai đỗ xịch ở cổng. Cửa xe mở, những chiếc ô màu đen, màu xanh, màu hoa xoè ra. Ông Cự bước xuống trước, rồi bà Hảo, rồi ông Bảo, rồi Toàn ôm một bó hoa ly trắng. Cuối cùng, từ chiếc xe thứ ba, một người đàn ông bước xuống không che ô, để mặc mưa rơi trên mái tóc nhuộm đen nhánh. Ông ta mặc com lê màu nâu, đi giày da mũi nhọn bóng loáng, và bước qua vũng nước giữa sân bằng một bước dài, kiểu bước của người quen đi trên sân khấu.

Ông ta nhìn quanh sân, thấy tôi đứng dưới mái hiên, và nháy mắt.

Bốn mươi năm trước, cũng cái nháy mắt ấy, trong cánh gà nhà hát tỉnh, trước khi bước ra đóng vai mụ dì ghẻ trong vở chèo cải biên, vì đoàn thiếu diễn viên nữ.

Tạ Khắc Bính bước lên bậc thềm, chìa tay ra cho tôi bắt. Bàn tay ông ta ẩm nước mưa. Ông ta cúi sát tai tôi, giọng thì thầm mà vẫn rõ từng chữ như thoại trên sân khấu:

– Lâu lắm mới thấy ông lên sàn, Biền ạ. Vai này lương bao nhiêu?

— Hết chương 4 —

Mục lục Ông bố cho thuê ở ngõ Văn Chương

  1. 1Cái tên ở cổ tay trái10 phút
  2. 2Tay áo tuột lên lúc rót trà10 phút đọc
  3. 3Bãi rạp dưới chân đê10 phút đọc
  4. 4Nước vối và tiền công một buổi10 phút đọc
  5. 5Mười một cái tráp dưới mưa Ba Vì10 phút đọc
  6. 6Hợp đồng không có ngày hết hạn9 phút đọc
  7. 7Đặt cọc bằng tiền làm bố9 phút đọc
  8. 8Bị đuổi khỏi vai10 phút đọc
  9. 9Nút con ong9 phút đọc
  10. 10Bài phát biểu không có trong kịch bản9 phút đọc
  11. 11Cổ tay sạch9 phút đọc

Về truyện này

Ông bố cho thuê ở ngõ Văn Chương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →