Chương 3: Bãi rạp dưới chân đê
– Quê nhà gái! – Lụa đập tay xuống bàn, làm chậu trầu bà nhảy lên một cái. – Chú hứa bừa với người ta như thế, giờ cháu lấy đâu ra quê nhà gái?
Hai giờ chiều Chủ nhật, dưới nhà máy photo đã tắt, căn phòng trên Khâm Thiên yên đến mức nghe được tiếng quạt trần lạch xạch. Lụa ngồi bóp trán, trước mặt là cuốn lịch để bàn và cái điện thoại đang mở danh bạ. Nhàn ngồi ở ghế bên kia, vẫn mặc nguyên áo dài hồng phấn, chưa kịp thay.
– Chú không hứa thì bà ấy nghi. – Tôi nói. – Cháu nhìn ba cái ô sáng trên tường rồi đấy. Bà ấy nhìn thấy trước cả chú.
– Ô sáng nào?
– Chỗ treo ảnh nhà dì cháu. Tháo xuống rồi, tường còn in ba cái ô vàng nhạt.
Lụa ngửa cổ lên trần nhà, kêu một tiếng như người bị chuột rút. Rồi con bé ngồi thẳng dậy, bấm điện thoại, tay nhanh như người chơi điện tử.
– Có một chỗ. – Một lúc sau Lụa nói. – Nhà vườn dưới chân núi Ba Vì, của một ông người quen hay cho đoàn phim thuê quay. Nhà ba gian lợp ngói, có sân gạch, có ao. Bàn thờ thì có sẵn, nhưng của nhà ông ấy.
– Phú Thọ với Ba Vì cách nhau con sông. – Tôi nói. – Bảo là nhà bác ruột, quê cũ bán rồi, bác ruột lập bàn thờ ông bà bên này. Bà Hảo muốn thắp hương, mình cho thắp hương.
– Thế ảnh thờ?
Cả hai cùng quay sang nhìn Nhàn. Cô ngồi im một lúc, rồi mở ví, lấy ra một tấm ảnh thứ hai, nhỏ hơn tấm ảnh bố bế con. Một người đàn bà trẻ, tóc dài, mặc áo bà ba màu cánh sen, đứng cạnh một bờ rào dâm bụt.
– Ảnh mẹ cháu. – Nhàn nói. – Cháu chỉ có cái này. Cháu không muốn nó bị phóng to lên treo ở nhà người lạ.
Lụa định nói gì đó, tôi lắc đầu ra hiệu. Chuyện ảnh thờ, để sau.
Cuối cùng chúng tôi chốt được mấy việc: ăn hỏi làm ở nhà vườn Ba Vì, nói là nhà bác ruột; Nhàn gọi cho Toàn để cậu thưa với mẹ; Lụa lo đội đỡ tráp, lo cỗ, lo xe. Nhàn chuyển khoản trước một nửa tiền. Lụa đếm số tiền trên màn hình điện thoại hai lần, rồi thở ra như người vừa trồi lên khỏi mặt nước.
Lúc Nhàn đứng dậy về, tôi bảo:
– Cháu chưa ăn trưa. Chú cũng chưa. Đi ăn bát bún với chú.
Quán bún ốc nguội ở đầu ngõ Văn Chương chỉ có sáu cái bàn nhựa thấp, bà chủ ngồi trên một cái ghế đẩu cạnh nồi nước dùng chua, tay cầm cái muôi gỗ dài. Ốc nhồi luộc để trong rổ, vỏ còn ướt. Bún ốc nguội ăn kiểu Hà Nội, bún để riêng, nước để riêng, ốc thả vào bát nước, chấm từng gắp. Tôi gọi hai bát, thêm một đĩa chả cá. Nhàn ăn rất chậm, gắp từng sợi bún như gắp thuốc ra khỏi vỉ.
– Chú hỏi thẳng nhé. – Tôi nói, khi bát của cô đã vơi một nửa. – Chú cần biết bố cháu là ai. Không phải để đóng. Mà để khỏi đóng nhầm.
Nhàn đặt đũa xuống. Cô nhìn ra ngoài ngõ, nơi có một ông cụ đang đạp xe chở một bao tải chai nhựa đi qua, tiếng chai lách cách.
– Năm cháu mười tuổi. – Cô nói. – Đêm hôm ấy bố cháu đi đám cưới một ông thợ cùng đội. Bố cháu uống đến bốn giờ sáng. Năm giờ, bố đi xe máy về. Đến đầu chợ xã, có một bà bán xôi đang đẩy cái xe gỗ ra chỗ ngồi. Bà Lành. Bà bán xôi xéo cho cả xóm. Hôm nào cháu đi học sớm, mẹ cũng cho cháu năm nghìn ra mua xôi bà Lành.
Cô ngừng lại. Bà chủ quán gõ cái muôi vào thành nồi, gọi to: "Ai thêm nước không?" Không ai trả lời.
– Bà Lành mất ngay ở đó. – Nhàn nói tiếp, giọng vẫn đều. – Bố cháu bị bảy năm. Mẹ cháu đi làm thuê trả tiền cho nhà bà Lành, làm đến đâu trả đến đấy. Năm cháu mười bốn tuổi thì mẹ cháu mất. Bệnh thận, chú ạ. Mẹ cháu đi chạy thận ở bệnh viện tỉnh hai năm, đi một mình bằng xe khách. Lúc mẹ mất, bố cháu vẫn ở trong trại.
– Cháu có đi thăm bố không?
– Một lần. Năm cháu mười hai tuổi, bà ngoại dắt đi. Bố cháu khóc suốt. Cháu không khóc. Từ đó cháu không đi nữa.
– Bố cháu ra năm nào?
– Năm 2015. Cháu mười bảy tuổi. Bố về nhà bà ngoại, đứng ở ngoài cổng. Cháu khoá cửa buồng. Bố đứng đến tối thì đi.
Cô cầm đũa lên, gắp một con ốc, chấm vào bát nước, rồi lại đặt xuống, không ăn.
– Từ đó tháng nào bố cũng gửi tiền về cho bà ngoại. Bà ngoại cất đi, không tiêu. Bà mất, cháu tìm thấy một hộp bánh quy toàn tiền, có cả giấy ghi tháng. Cháu mang ra ngân hàng chuyển trả lại hết. Cháu chỉ biết bố cháu ở bên kia sông Đuống, làm đội dựng rạp cưới. Bà ngoại nói thế.
– Dựng rạp cưới. – Tôi nhắc lại.
– Vâng. – Nhàn cười một cái rất ngắn, cái cười không có chút vui nào. – Buồn cười chú nhỉ. Cả đời bố cháu đi dựng rạp cho người ta cưới.
Tôi không cười. Tôi cũng không hỏi cô có ghét bố không. Câu đó hỏi ra thì chỉ có hai cách trả lời, và cách nào cũng không đúng.
– Nhà anh Toàn mà biết. – Cô nói. – Mẹ anh ấy sẽ không cho cưới. Chú thấy bà ấy hỏi đến cái ô sáng trên tường rồi đấy. Bà ấy mà biết bố cháu say rượu giết người, đi tù bảy năm, thì bà ấy cho người đi hỏi đến tận đời cụ. Cháu không cho bà ấy cái cơ hội ấy.
– Còn anh Toàn?
– Anh Toàn hiền lắm, chú ạ. – Lần này giọng cô mềm đi một chút. – Hiền đến mức mẹ anh ấy bảo gì cũng vâng.
Cô trả tiền bún trước khi tôi kịp móc ví. Ra đến đầu ngõ, cô cúi chào tôi như chào một ông chú họ xa, rồi gọi xe ôm đi. Tôi đứng ở cửa quán, nhìn theo tà áo dài hồng phấn bay phần phật trên yên xe máy cho đến khi khuất sau góc phố Văn Miếu.
Tối hôm ấy tôi gọi cho con trai tôi.
Thằng Đạt ba mươi ba tuổi, làm kỹ thuật viên sửa thang máy, sống với vợ chưa cưới ở một căn hộ thuê bên Long Biên. Lần cuối nó nghe máy của tôi là hai năm trước, đúng ngày giỗ thứ năm của mẹ nó, và nó nói đúng một câu: "Bố đừng đến." Tôi không đến. Từ đó tôi gọi tháng một lần, vào ngày rằm, nó không bao giờ nghe. Hôm nay không phải rằm, nhưng tôi vẫn gọi. Chuông đổ đến hồi thứ mười thì tắt.
Tôi biết vì sao nó không nghe. Năm nó học lớp chín, mẹ nó mổ ruột thừa, tôi đang đi lưu diễn ở một tỉnh miền núi, không về. Năm nó tốt nghiệp đại học, tôi đến muộn hai tiếng, vẫn mặc nguyên bộ phục trang ông chánh tổng vì vừa diễn thuê xong một suất ở nhà văn hoá, người nồng mùi rượu. Năm mẹ nó mất, tôi đang quay một bộ phim truyền hình làm diễn viên quần chúng ở một tỉnh ven biển, đến muộn ba ngày, khi cát đã lấp. Ba lần ấy tôi đều có lý do. Lý do nào nghe cũng được. Nhưng con người ta không lớn lên bằng lý do của bố nó.
Thứ Năm sau đó, tôi không nói với Lụa, tự bắt xe buýt qua sông.
Bên kia sông Đuống, dưới chân con đê, có một dải đất bãi rộng, người ta dựng những kho chứa đồ cưới hỏi tạm bợ bằng khung thép và mái tôn. Tôi đi bộ dọc chân đê gần một tiếng, hỏi mười mấy người, mới tìm ra chỗ bà Vạn. Đó là một bãi đất nện. Trên bãi chất la liệt khung rạp bằng thép ống sơn trắng, những bó cột nhôm, những chồng ghế nhựa đỏ cao quá đầu người, những cái cổng hoa giả còn nguyên chữ song hỉ bằng xốp. Trên mấy sợi dây thép căng ngang bãi, người ta phơi vải voan, voan trắng, voan hồng, voan vàng, gió từ sông thổi lên làm chúng phồng ra như những cánh buồm.
Bà Vạn là một người đàn bà to béo, đeo cái túi da đựng tiền trước bụng, đang ngồi trên một chồng ghế nhựa ăn cơm hộp. Tôi nói tôi đến hỏi thuê rạp.
– Rạp ngày nào? Bao nhiêu mâm? – Bà hỏi, không ngẩng lên.
– Tôi muốn gặp người dựng rạp trước. – Tôi nói. – Người ta giới thiệu một anh tên Tráng. Răng cửa sứt.
Bà Vạn ngẩng lên, nhìn tôi từ đầu đến chân. Rồi bà hất hàm về phía cuối bãi.
– Ông Tráng đang ở trên thang kia. Ông ấy không nói chuyện giá cả đâu nhá, giá cả thì hỏi tôi.
Cuối bãi, một khung rạp thử đang được dựng lên, chừng bốn mét chiều cao. Một người đàn ông đứng trên đỉnh cái thang chữ A bằng nhôm, tay đang buộc một dải voan trắng vào thanh ngang. Ông gầy, đen, mặc áo bảo hộ màu cam bạc phếch, đầu đội mũ lưỡi trai, cái lưng khom xuống như cái móc treo. Ông buộc vải rất nhanh, hai tay đưa qua đưa lại, gập, xoắn, giật, và dải voan nằm im trên thanh thép, không một nếp nhăn.
Tôi đứng dưới chân thang, ngửa cổ lên.
– Anh Tráng phải không?
Ông nhìn xuống. Dưới vành mũ, khuôn mặt sạm nắng, hằn sâu hai nếp nhăn từ cánh mũi xuống khoé miệng. Ông nheo mắt, rồi gật.
– Bác hỏi rạp thì hỏi bà Vạn ấy.
– Tôi không hỏi rạp. – Tôi nói. – Tôi đến vì cháu Nhàn.
Đôi tay trên thanh thép dừng lại. Ông đứng im trên đỉnh thang, cao hơn tôi gần hai mét, và tôi thấy khuôn mặt ông chuyển từ đen sạm sang một màu xám như tro. Ông bước xuống từng bậc, rất chậm, tay vẫn cầm một đoạn ống thép ngắn mà ông dùng để nện cho chặt mối buộc.
– Nó làm sao? – Ông hỏi, giọng khàn đặc. – Nó ốm à? Nó bị làm sao?
– Cháu khoẻ. – Tôi nói. – Cháu khoẻ. Cháu sắp…
Tôi dừng lại. Tôi không biết mình định nói gì tiếp. Cả đời đứng trên sân khấu, tôi chưa bao giờ quên thoại vào đúng lúc người ta cần nghe nhất.
Ông Tráng nhìn tôi. Rồi ông nhìn lên dải voan trắng mình vừa buộc, nhìn những cái cổng hoa song hỉ chất đống quanh bãi, nhìn những tấm voan hồng phồng lên trong gió. Ông hiểu trước khi tôi kịp nói.
Đoạn ống thép tuột khỏi tay ông, rơi xuống nền đất nện, nảy lên một tiếng keng rồi lăn vào chân tôi.
– Nó lấy chồng à? – Ông hỏi.
Tôi gật.
Ông đứng im rất lâu. Gió từ sông thổi qua bãi, làm những tấm voan phơi trên dây kêu phần phật. Ở đầu bãi, bà Vạn vẫn ăn cơm hộp.
– Thế ai… – Ông hỏi, và giọng ông vỡ ra ở giữa câu. – Ai đứng làm bố nó?
— Hết chương 3 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe