Chương 2: Tay áo tuột lên lúc rót trà
Sáu giờ sáng Chủ nhật, tôi đứng ở vòi nước chiếu nghỉ, viết lên cổ tay trái ba chữ: "Vi Đình Tráng". Viết xong tôi thổi cho khô mực, rồi viết thêm một dòng nhỏ hơn bên dưới: "răng cửa sứt, không rượu". Răng thì tôi không sứt được, nhưng ghi ra để nhớ rằng người đàn ông này, hơn hai mươi năm trước, từng cười hết cỡ trước ống kính mà không ngại khoe cái răng sứt.
Thằng sinh viên phòng bên cạnh ra đánh răng, thấy tôi đang ngồi viết lên tay thì nhìn một lúc, rồi hỏi:
– Bác ơi, bác đi thi à?
– Ừ. – Tôi nói. – Thi làm bố.
Nó gật gù như hiểu, ngậm bàn chải đi vào.
Căn hộ tập thể của bà Ngọ, dì của Lụa, nằm ở tầng ba một dãy nhà năm tầng trong khu Kim Liên. Cầu thang có lan can sắt sơn xanh đã tróc, mỗi chiếu nghỉ treo một lồng chim hoặc một chậu hoa giấy. Ở tầng hai có ai đang kho cá, mùi riềng mẻ bốc lên tận tầng ba. Bà Ngọ bảy mươi tuổi, nguyên là thợ dệt ở nhà máy dệt cũ, người nhỏ, tóc búi, nói câu nào cũng kết bằng chữ "nhá". Bà nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi bảo:
– Ông bố này được đấy nhá. Trông khổ vừa phải.
Lụa đã cho dọn nhà từ tối hôm trước. Bộ bàn ghế gỗ được lau bóng, khăn trải bàn ren trắng thuê ngoài chợ, đĩa hoa quả xếp hình tháp, ấm chén men lam mới tinh. Trên bàn thờ chỉ còn bát hương, hai cây nến và một lọ hoa cúc vàng. Mấy khung ảnh thờ của nhà bà Ngọ đã được cất vào tủ, cẩn thận bọc khăn. Họ hàng nhà gái gồm bốn người. Bà bác do một cô giáo dạy văn về hưu tên Thoan đóng, ông cậu do một anh chạy xe ôm công nghệ ở Đống Đa đóng, còn hai cô em họ là hai sinh viên làm thêm. Lụa đứng ở bếp, đóng vai cô hàng xóm sang giúp.
Nhàn đến lúc bảy giờ rưỡi, mặc áo dài màu hồng phấn, tóc búi gọn. Cô cúi đầu chào tôi.
– Con chào bố.
Tôi suýt giật mình. Từ hôm gặp ở Khâm Thiên, chúng tôi chỉ tập với nhau đúng một buổi tối, trong quán nước ở đầu ngõ Văn Chương. Tối hôm ấy cô gọi tôi là "chú" suốt, và chỉ nói được chữ "bố" đúng một lần, rất khẽ, như sợ có ai nghe thấy. Bây giờ cô nói tròn vành, rõ chữ, bằng cái giọng đều đều không lên không xuống.
– Ừ. – Tôi nói. – Con ăn sáng chưa?
– Con ăn rồi ạ.
– Ăn gì?
Cô khựng lại. Câu ấy không có trong bản tóm tắt mười bốn mục.
– Con ăn bánh mì ạ.
– Lần sau ăn xôi. – Tôi bảo. – Ăn bánh mì đứng nói chuyện cả buổi sáng là đói lả.
Nhàn nhìn tôi một lúc lâu, rồi quay vào trong phụ Lụa xếp chén. Bà Ngọ đứng ở cửa bếp, lẩm bẩm: "Diễn hay nhá."
Chín giờ kém năm, nhà trai đến.
Tôi nghe tiếng giày lên cầu thang trước khi thấy người. Có tiếng giày da gõ đều và nặng, có tiếng guốc gỗ nhẹ, và một tiếng thứ ba rất lạ, loạt xoạt, như tiếng đế cao su mòn quệt lên bậc xi măng. Rồi họ hiện ra ở đầu cầu thang. Đi đầu là một ông chừng sáu mươi lăm, mặc com lê xám, cà vạt đỏ, tay cầm cái tráp sơn son nhỏ. Đó là ông Lương Văn Cự, chú ruột chú rể, đại diện họ nhà trai. Sau ông là một người đàn bà ngoài năm mươi, áo dài nhung màu đỏ mận, cổ đeo một chuỗi hạt vàng, tay cầm cái quạt giấy gấp. Bà Tống Thị Hảo, mẹ chú rể. Sau nữa là một cậu thanh niên cao lêu nghêu, đeo kính, mặc áo sơ mi trắng hơi rộng, hai tay ôm giỏ hoa quả, mặt đỏ như vừa chạy lên năm tầng gác. Lương Mạnh Toàn.
Người cuối cùng là bố chú rể, ông Lương Văn Bảo. Ông gầy, lưng thẳng, tóc bạc cắt cua sát da đầu, mặc áo sơ mi trắng sơ vin, quần âu màu cỏ úa. Chân ông đi một đôi giày vải màu xanh rêu đã cũ, kiểu giày bộ đội ngày xưa, nhưng đánh sạch không một vết bùn. Tiếng loạt xoạt là của đôi giày ấy.
– Kính chào ông bà, kính chào anh chị. – Ông Cự nói, giọng vang như đọc diễn văn. – Hôm nay là ngày lành tháng tốt, gia đình chúng tôi sang đây trước là để thăm hỏi, sau là để thưa chuyện với hai bên gia đình về chuyện của hai cháu.
Tôi đứng dậy, bắt tay từng người. Tay ông Cự mềm và ẩm. Tay bà Hảo đeo hai chiếc nhẫn, bóp rất nhẹ, kiểu bắt tay của người không muốn chạm lâu. Tay Toàn run. Tay ông Bảo khô, cứng, ở gan bàn tay có một vết chai dày cộp chạy ngang, như vết của cán xẻng cầm mấy chục năm.
Mọi người ngồi xuống. Ông Cự nói một bài dài về lễ nghĩa, về đạo vợ chồng, về chữ hiếu, về việc thời nay thanh niên tự tìm hiểu nhau nhưng vẫn phải có cha mẹ hai bên đứng ra cho đúng phép. Bà Thoan đóng bác gái đáp lại một bài cũng dài không kém, có cả mấy câu ca dao. Tôi ngồi im, gật đầu đúng chỗ. Đóng vai ông bố ít nói thì cái khó nhất là biết khi nào gật.
Rồi bà Hảo gấp cái quạt lại, đặt lên bàn. Tôi biết đến lượt mình.
– Anh Tráng này. – Bà nói, giọng ngọt, chậm, rõ từng chữ. – Nghe cháu Nhàn kể anh làm công trình trong Nam lâu năm lắm nhỉ?
– Vâng, cũng ngót hai chục năm.
– Công trình gì hả anh?
– Nhà dân, nhà xưởng. Ai thuê gì làm nấy.
– Thế anh làm cốp pha hay làm nề?
Bà hỏi đúng chữ chuyên môn. Một bà buôn vải hỏi chữ chuyên môn thì hoặc là bà có người nhà làm xây dựng, hoặc là bà đã chuẩn bị câu hỏi từ trước.
– Lúc trẻ thì làm nề. – Tôi nói. – Mười năm nay thì làm cai thợ.
Bà Hảo liếc xuống bàn tay tôi đang đặt trên đầu gối. Tôi biết bà thấy gì: một bàn tay trắng, mềm, móng cắt gọn, không có lấy một vết sẹo. Bàn tay của người cả đời cầm kịch bản và cầm micro.
– Tay anh trắng nhỉ. – Bà nói. – Không giống tay thợ nề.
Cậu Toàn ho khẽ, nhìn mẹ. Ông Cự cười to để lấp. Nhàn ngồi ở mép ghế, hai bàn tay đặt trên đùi siết lại.
Tôi cười, giơ cả hai bàn tay lên trước mặt, lật qua lật lại như đang xem hàng.
– Chị tinh mắt thật. – Tôi nói. – Mười năm làm cai rồi, tay tôi chỉ còn cầm hai thứ: bản vẽ với cái điện thoại để quát thợ. Thợ nó bảo tay tôi trắng như tay ông chủ, nhưng ông chủ thì không có, chỉ có ông cai. Còn tay nề của tôi thì nó nằm ở đây này.
Tôi chỉ vào cái lưng của mình, xoa lên chỗ thắt lưng.
– Hai đốt sống ở đây. Bác sĩ bảo của ba mươi năm bê gạch.
Ông cậu xe ôm bật cười trước tiên, rồi cả bàn cười. Bà Hảo cũng cười, nhưng cái quạt vẫn nằm im trên bàn, không mở ra.
Bà chuyển sang hỏi quê. Tôi kể về cái xã ven sông Thao, về bãi ngô bãi mía, về con đò ngang, những thứ tôi đã đọc và đã hỏi Nhàn đến tận mười một giờ đêm hôm trước. Bà hỏi chuyện mẹ Nhàn mất năm nào, mất vì bệnh gì, tôi trả lời đúng như bản tóm tắt: năm 2012, bệnh thận. Đến đây giọng tôi trầm xuống một chút, không phải tôi diễn, mà vì tôi nhớ đến vợ cũ của mình, người cũng mất trong bệnh viện, mà tôi đến muộn ba ngày.
Rồi bà nhìn lên tường, phía trên bàn thờ.
Trên mảng tường vôi vàng ấy có ba khoảng hình chữ nhật sáng màu hơn hẳn xung quanh, chỗ ba khung ảnh treo mấy chục năm vừa được tháo xuống tối hôm qua. Ba khoảng sáng ấy hiện rõ như ba ô cửa sổ.
– Nhà mình mới chuyển đến đây à anh? – Bà hỏi.
Lụa trong bếp đánh rơi một cái thìa.
– Nhà này là nhà người quen cho thuê lại. – Tôi nói. – Tôi mới ra được ba tháng, đang thuê tạm, chủ nhà họ cũng vừa dọn đồ đi. Bàn thờ thì tôi mới lập để thắp hương cho mẹ cháu.
– Thế ảnh mẹ cháu đâu anh?
Câu ấy bà hỏi rất nhẹ, như hỏi chuyện thời tiết. Nhưng tôi thấy Nhàn hơi cúi đầu xuống. Trong mười bốn mục, không có mục nào dặn tôi về tấm ảnh của mẹ cô.
– Ảnh mẹ cháu để ở quê. – Tôi nói, chậm rãi. – Bà ngoại cháu lập bàn thờ ở quê từ hồi đó, tôi không nỡ mang đi. Ở đây tôi chỉ thắp hương vọng.
Bà Hảo gật, nhưng gật rất chậm. Rồi bà quay sang ông Cự, nói một câu tôi không đoán trước được:
– Thế thì lễ ăn hỏi mình làm ở quê nhà gái chú ạ. Cho đúng lệ. Nhà mình còn sang thắp hương bà ngoại cháu với mẹ cháu.
Ông Cự gật đầu lia lịa, khen phải lắm. Toàn nhìn Nhàn, Nhàn nhìn xuống đất. Trong bếp, tôi nghe tiếng Lụa hít vào một hơi dài qua kẽ răng.
– Vâng. – Tôi nói, vì không còn cách nào khác. – Nhà tôi sẽ thu xếp.
Đến lượt pha trà mới. Theo lệ, chủ nhà rót mời. Tôi cầm cái ấm men lam bằng tay phải, tay trái đưa lên đè nắp, kiểu rót trà các cụ vẫn dạy cho nắp khỏi rơi. Ấm hơi nặng, tôi nghiêng ấm, cánh tay trái vươn qua mặt bàn, và tay áo sơ mi tuột lên quá cổ tay.
Tôi rót cho ông Cự, cho bà Hảo, cho Toàn. Đến chén của ông Bảo, tôi thấy ông không nhìn chén trà. Ông nhìn cổ tay tôi.
Chỉ một giây. Rồi ông đưa hai tay đỡ chén trà, nói "Cảm ơn anh", và nhấp một ngụm, mặt không đổi.
Tôi đặt ấm xuống, kéo tay áo, cài lại cúc măng sét. Chữ bút bi xanh đã bị mồ hôi làm nhoè một chút, nhưng vẫn đọc được. Tôi không biết ông đọc được mấy chữ.
Suốt phần còn lại của buổi, ông Bảo không nói câu nào. Ông Cự bàn chuyện ngày ăn hỏi, bà Hảo bàn chuyện số tráp, Toàn kể chuyện lần đầu gặp Nhàn ở nhà thuốc. Hôm ấy cậu vào mua thuốc say xe mà nói nhầm thành thuốc say rượu, làm cô dược sĩ phải hỏi lại ba lần. Đến đoạn ấy Nhàn mới cười, lần đầu tiên trong buổi sáng, một nụ cười rất nhanh, giấu ngay vào sau bàn tay. Tôi để ý thấy Toàn nhìn cái cười ấy như người ta nhìn một con cá vừa đớp mồi.
Mười một giờ, nhà trai xin phép về. Tôi tiễn ra tận đầu cầu thang. Ông Cự, bà Hảo, Toàn đi xuống trước. Ông Bảo đi sau cùng. Đến bậc thứ ba, ông dừng lại, quay đầu lên, nhìn tôi.
Tiếng đế giày cao su của ông ngừng loạt xoạt. Ở tầng hai, mùi cá kho đã thành mùi cá cháy.
– Anh Tráng này. – Ông nói, giọng trầm, khẽ, chỉ đủ cho hai người nghe. – Lần sau rót trà, anh nhớ kéo tay áo xuống.
Rồi ông quay đi, tiếng giày lại loạt xoạt xuống từng bậc, cho đến khi tắt hẳn ở chân cầu thang.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe