Chương 8: Những người không ai nhìn thấy
Sáng mồng bảy, mụ Đỗ đến cung Thanh Lộc, sau lưng là hai thái giám của Thượng cung cục. Mụ đứng giữa sân, cái mắt còn lại nhìn thẳng vào cửa gian giữa, đọc khẩu dụ của Thái hậu. Tối mai xét chuyện hai ngọn đèn ở hành lang Tây. Ty Đăng Chúc phải treo đèn y như đêm mùng chín tháng Chạp. Cung nữ Khúc Thị Bèo về Ty Đăng Chúc chuẩn bị, Thượng cung cục giám sát.
Đức phi bước ra hiên, nghe hết, cúi đầu nhận lệnh. Không ai có thể cãi Thái hậu.
Lúc Bèo đi ngang qua bà, bà nói khẽ, chỉ đủ cho một mình nàng nghe:
– Hoàng hậu thật chu đáo. Bà ấy làm sao biết mà xin được việc ấy nhỉ?
Bèo không đáp. Đức phi mỉm cười, quay vào, tiếng ho khẽ vọng ra sau rèm.
Ty Đăng Chúc vẫn mùi dầu lạc, mùi khói, mùi hồ dán. Mười một cung nữ thấy Bèo về thì đứng cả dậy, không biết nên chào hay nên tránh. Lành chạy tới, nắm lấy tay nàng, không nói được câu nào.
Mụ Đỗ đóng cửa gian giữa lại, đuổi hai thái giám Thượng cung cục ra ngồi uống trà ở hiên.
– Nói đi. – Mụ bảo. – Mày cần gì.
Bèo kể. Lần này nàng kể cho mụ Đỗ, cho Lành, và cho cả mười đứa con gái còn lại ngồi quanh bàn dài. Nàng không giấu gì, trừ chuyện thư phòng. Khi nàng nói đến cái nút quấn trái, mụ Đỗ cầm ngay một sợi dây, buộc thử nút đò theo cách Bèo dạy, rồi bảo Lành buộc. Đặt hai cái nút cạnh nhau trên bàn, ai cũng thấy: một cái quấn phải, một cái quấn trái, giống nhau như hai bàn tay của cùng một người úp vào nhau.
– Bốn mươi năm giữ đèn. – Mụ Đỗ lẩm bẩm. – Bốn mươi năm, già này chưa bao giờ để ý tay trái tay phải.
– Bà ơi. – Bèo nói. – Đêm mai, Thái hậu hỏi bấc, bà nói được không?
– Bấc thì tao nói đến sáng cũng được. – Mụ Đỗ gõ cái chổi lông gà xuống bàn. – Tao còn nói được một điều nữa: cả Ty Đăng Chúc này chưa bao giờ làm cái đèn lồng nào hình hoa sen. Sổ giao đèn bốn mươi năm của tao không có. Ai muốn tìm cái đèn ấy thì đi mà tìm ở cung khác.
Bèo gật đầu. Nàng cần một người nữa.
Cả buổi trưa, mười hai đứa con gái ngồi quanh bàn dài cắt bấc. Mười bảy cái bấc cho mười bảy ngọn đèn, cắt sát mặt dầu, ngắn bằng đốt ngón tay út, đúng như mười bảy mẩu bấc trên mâm đồng hôm mùng mười tháng Chạp. Mụ Đỗ cầm từng cái lên ướm vào đốt tay mình, cái nào dài hơn nửa phân là bắt cắt lại.
– Chị Bèo, cắt ngắn thế thì đèn tắt sớm. – Cái Gừng, đứa nhỏ nhất Ty, mới mười lăm tuổi, hỏi. – Tắt sớm thì Thái hậu ngã thì sao?
– Thái hậu ngồi kiệu, không đi bộ. – Bèo nói. – Mà mình muốn đèn tắt. Mình muốn Thái hậu nhìn thấy nó tắt lúc nào.
Cái Gừng không hiểu, nhưng không hỏi nữa. Nó cúi xuống cắt bấc, mím môi, cẩn thận như người khâu áo cưới.
Chiều, nàng ra Nguyệt Môn. Ông Phúc nấu trà, mắt nhìn ra hành lang như mọi ngày.
– Ông Phúc. Đêm mai Thái hậu hỏi, ông có dám nói ông thấy cái đèn hoa sen không?
Ông Phúc rót trà, rót đến tràn chén mà không biết.
– Ta sáu mươi tư tuổi, con bé. – Ông nói. – Năm mười hai tuổi người ta đưa ta vào cung. Năm mươi hai năm ta gác cổng, ta nhìn thấy bao nhiêu thứ, ta chưa nói ra một thứ nào. Ta sống đến giờ là nhờ thế.
– Cháu biết.
– Mày biết mà còn hỏi.
– Vì nếu ông không nói, đêm mai người ta sẽ chỉ vào cái Lành. Nó mới mười tám tuổi.
Ông Phúc đặt ấm trà xuống. Hai bàn tay ông, nhăn nheo như vỏ cây vối, đặt lên đầu gối.
– Ta không thấy mặt người cầm đèn. – Ông nói. – Nhưng đêm ấy, trước cái đèn hoa sen, có một cỗ kiệu nhỏ đến Nguyệt Môn thì dừng lại. Người trong kiệu xuống đi bộ. Kiệu không vào hành lang Tây, quay về rỗng. Kiệu ấy do thằng Tráng khiêng.
Tráng là kiệu phu của cung Thanh Lộc, hai mươi lăm tuổi, to khỏe, ít nói. Chiều hôm ấy, Bèo tìm thấy anh ta ở chuồng kiệu sau cổng Tây, đang lau tay đòn.
Tráng nghe Bèo hỏi, mặt tái mét.
– Tôi chỉ là thằng khiêng kiệu. – Anh ta nói. – Ai bảo dừng thì dừng, bảo đi thì đi.
– Đêm mùng chín tháng Chạp, ai bảo anh dừng ở Nguyệt Môn?
Tráng nhìn quanh. Chuồng kiệu không có ai, chỉ có mấy con chim sẻ đậu trên xà.
– Nương nương. – Anh ta nói, rất khẽ. – Nương nương bảo trong người khó chịu, muốn đi bộ cho thoáng. Chị Mơ cầm đèn đứng chờ sẵn ở Nguyệt Môn. Tôi với thằng Lục khiêng kiệu rỗng về. Tôi tưởng nương nương ho, cần gió.
– Anh có dám nói câu ấy đêm mai không?
Tráng không trả lời. Anh ta cúi xuống lau tay đòn kiệu, lau mãi một chỗ đã bóng loáng.
– Mẹ tôi ở làng ven sông Thương Ninh. – Anh ta nói, không ngẩng lên. – Tháng trước kho thóc phủ mở, mẹ tôi lĩnh được hai đấu. Người ta đồn vì có một con bé trong cung nói giá gạo cho Hoàng thượng nghe.
Anh ta đặt khăn xuống.
– Tôi không biết tôi có dám không. Nhưng nếu Thái hậu hỏi, tôi không nói dối.
Lúc Bèo trở về Ty Đăng Chúc, trời đã sẩm. Ở cửa, một người đứng chờ nàng. Áo xanh thị nữ, mặt tròn, tóc tết hai bên. Mơ.
Hai người đứng dưới hiên Ty Đăng Chúc. Mấy ngọn đèn trong gian giữa hắt ánh sáng vàng ra sân. Mơ không nhìn Bèo, nhìn những ngọn đèn.
– Nương nương sai chị mang áo bông sang cho em. – Mơ đưa cái áo bông xanh. – Nương nương bảo trời rét.
– Chị Mơ. Chị đến để nói gì?
Mơ im một lúc lâu.
– Năm Bính Thìn, cậu Hai ba tuổi. – Mơ nói. – Cậu Hai là con trai nương nương. Chị bế cậu từ lúc lọt lòng. Mùa đông ấy rét lắm, cậu sốt, chị chạy sang Thái y viện xin người. Thái y viện bảo cả hai thái y trực đêm đều đang ở cung Ngọc Hoa, vì hoàng trưởng tử mới sinh, Quý phi không cho ai về. Chị chạy sang Ty Than xin thêm than sưởi. Ty Than bảo than tháng ấy đã chia hết, cung Ngọc Hoa lấy trước gấp đôi.
Mơ ngừng lại. Giọng nàng ta đều đều, như kể đã nghìn lần trong đầu.
– Chị bế cậu ngồi cạnh cái lò than gần tắt đến sáng. Sáng ra thái y đến. Muộn rồi.
Bèo không nói được gì.
– Cái đèn kéo quân, chị không định đốt ai. – Mơ nói. – Chị chỉ định cho nó rơi xuống, cháy cái rèm, cho Quý phi biết sợ là thế nào. Chị đã đứng ngoài cửa sổ chờ, nghe nhũ mẫu chạy vào chị mới đi. Chị không để cho hoàng tử bị gì đâu. – Mơ nhìn Bèo lần đầu. – Nhưng chị không đi làm chứng đâu, em. Nương nương nuôi chị từ năm tám tuổi. Chị chỉ còn nương nương.
– Thế sao chị nói với em?
– Vì em dạy công chúa buộc nút. – Mơ nói. – Công chúa đêm nào cũng ngủ với nắm áo của em trong tay. Chị không muốn công chúa lớn lên rồi biết người ta đã làm gì với em.
Mơ quay đi. Đi được mấy bước, Mơ nói thêm, không quay lại:
– Tối nay đừng để cái Lành ngủ một mình.
Đêm ấy thái giám điện Tĩnh Chính đến Ty Đăng Chúc đón Bèo, vì Thái hậu đã cho nàng về đây. Trước khi đi, nàng dặn mụ Đỗ giữ Lành bên mình, không cho đi đâu. Mụ Đỗ gật đầu, bảo Lành mang chăn sang ngủ ở gian của mụ.
Thư phòng điện Tĩnh Chính đêm ấy chỉ thắp hai trong bốn ngọn đèn. Hoàng thượng không đọc tấu. Ngài ngồi trên cái đôn gỗ của nàng, bên ngoài bình phong, chờ.
– Ngày mai ta ngồi cạnh Thái hậu. – Ngài nói, không vòng vo. – Ngươi muốn ta nói gì?
– Bẩm, nô tỳ xin Hoàng thượng đừng nói gì.
Ngài nhìn nàng.
– Ngươi biết ta có thể kết thúc chuyện này bằng một câu.
– Bẩm, nô tỳ biết. – Bèo quỳ xuống. – Nhưng nếu Hoàng thượng kết thúc bằng một câu, thì những người đêm mai dám đứng ra nói, người gác cổng, người khiêng kiệu, người giữ đèn, sẽ không ai nhớ họ đã nói gì. Người ta chỉ nhớ Hoàng thượng thương một con bé lái đò. Xin Hoàng thượng chỉ nhìn thôi.
Hoàng thượng im lặng rất lâu.
– Tên ngươi, Bèo. – Ngài nói, như nhai lại một chữ. – Trong chữ Hán, bèo là bình. Cánh bèo trôi trên mặt nước, gió đến đâu thì theo đến đó.
– Bẩm, cha nô tỳ bảo bèo không trôi. Bèo bám vào nhau thành một mảng, có khi trâu đi qua cũng không chìm.
Hoàng thượng bật cười, lần này không khô khốc.
– Ta sẽ chỉ nhìn. – Ngài nói. – Nhưng nếu đêm mai ngươi thua, thì từ sáng ngày kia, ta không chờ nữa.
Ngài đứng dậy đi vào trong. Bèo ngồi khêu hai ngọn đèn đến canh tư, nghe tiếng ngài trở mình sau bình phong, không ngủ.
Canh tư, thái giám đưa nàng về Ty Đăng Chúc. Cửa gian của mụ Đỗ mở toang. Mụ Đỗ ngồi trên bậc thềm, cái mắt còn lại đỏ ngầu.
– Canh ba, tao bị gọi lên Thượng cung cục nhận thêm dầu cho đêm mai. – Mụ nói, giọng khàn đặc. – Tao về thì cái Lành không còn. Đứa trực đêm bảo người của cung Thanh Lộc đến, có giấy của Thượng cung cục, đưa đi đối chất.
Bèo nhìn vào gian trong. Cái chăn của Lành vẫn còn trải trên phản, gấp một góc, như người vừa ngồi dậy.
— Hết chương 8 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe