AI Truyện
Người giữ đèn hành lang Tây

🏯 Cổ đại & cung đấu

Sau tấm bình phong

Người giữ đèn hành lang Tây · Chương 2/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Sau tấm bình phong

Trong điện Khôn Đức chỉ thắp hai ngọn nến. Hoàng hậu Bạch Ngọc Khuê ngồi bên án thư, áo ngoài màu xanh rêu, tóc vấn gọn, không cài một món trang sức nào ngoài cây trâm gỗ. Bà đang chép kinh. Bèo quỳ dưới thềm đến lúc nến cháy hết một đốt mà bà vẫn chưa ngẩng lên.

Người ta đồn Hoàng hậu lạnh như nước giếng mùa đông. Người ta còn đồn bà vào cung đã chín năm mà không có con, vì thế đứng trước Quý phi luôn thấp hơn nửa cái đầu, dù ngôi thì cao hơn. Bèo không biết điều nào đúng. Nàng chỉ thấy bàn tay cầm bút của bà không run một lần nào.

– Ngươi nói đèn bị cắt sau giờ Tuất. – Hoàng hậu đặt bút xuống. – Ngươi có biết câu ấy nói ra thì ai phải chịu không?

– Bẩm, nô tỳ không biết.

– Ngươi biết. – Hoàng hậu nhìn nàng lần đầu. Đôi mắt bà không giận, cũng không hiền, như người xem một món đồ có đáng giữ hay không. – Hành lang Tây dựa lưng vào tường của ta. Sáng nay cả cung đã thì thầm rằng người của cung Khôn Đức đi cắt bấc cho Quý phi ngã. Câu của ngươi cứu ngươi, nhưng đẩy ta xuống nước.

Bèo dập đầu. Trán nàng chạm nền gạch lạnh buốt.

– Bẩm nương nương, nô tỳ chỉ nói điều nô tỳ thấy. Nô tỳ không nói ai cắt.

– Ừ. Không nói. – Hoàng hậu nhấc chén trà nguội lên, rồi lại đặt xuống mà không uống. – Người khác nói hộ ngươi rồi.

Im lặng kéo dài. Ngoài sân có tiếng mõ cầm canh, canh ba.

– Ngươi đứng dậy.

Bèo đứng dậy. Thượng cung Tố đứng hầu bên cạnh Hoàng hậu, lúc này mới lên tiếng:

– Bẩm nương nương, điện Tĩnh Chính đang thiếu người giữ đèn đêm. Đứa cũ bị đuổi hôm rằm vì ngủ gật làm tàn đèn rơi vào tập tấu.

Hoàng hậu gật đầu, như việc ấy đã định từ trước.

– Từ đêm mai ngươi giữ đèn ở thư phòng điện Tĩnh Chính. Hoàng thượng mắc chứng khó ngủ, đọc tấu đến canh tư, có khi đến sáng. Việc của ngươi là khêu bấc, thay nến, không để đèn chập chờn, không để đèn tắt. Không được nói gì, không được nhìn gì. Hiểu chưa?

Bèo ngẩn người. Điện Tĩnh Chính là nơi Hoàng thượng làm việc. Một cung nữ quét dầu ở Ty Đăng Chúc, chưa từng được đứng gần tường điện ấy trong vòng trăm bước.

– Bẩm, nương nương muốn nô tỳ... báo lại điều gì?

Hoàng hậu nhìn nàng lâu hơn.

– Ta không cần ngươi báo gì. – Bà nói. – Ta chỉ cần ngươi đừng ngủ.

Bà cầm bút lên, cúi xuống trang kinh chép dở. Thượng cung Tố ra hiệu cho Bèo lui.

Suốt quãng đường về, Bèo nghĩ mãi câu ấy. Một Hoàng hậu không con, vừa bị cả cung nghi ngờ, đưa một đứa con gái lái đò vào ngồi cạnh ngọn đèn của Hoàng thượng. Bà không cần nàng báo gì. Bèo không tin. Ở bến Gián, cha nàng dạy: người cho mình đi nhờ đò mà không lấy tiền thì hoặc là người tốt, hoặc là người muốn mình chèo hộ.

Sáng hôm sau, cả Ty Đăng Chúc biết chuyện. Mười một đứa con gái nhìn Bèo như nhìn con cá chép vừa nhảy qua cửa cống. Chỉ có Lành là kéo nàng ra sau kho dầu, hai mắt sáng rỡ.

– Điện Tĩnh Chính! Mày có biết đứa giữ đèn trước được Hoàng thượng thưởng bao nhiêu không? Một tháng một lạng!

– Đứa trước bị đuổi.

– Vì nó ngu, ngủ gật. – Lành nắm chặt tay nàng. – Bèo ơi, mày lên rồi đừng quên tao. Có dịp nào thì nói giúp tao một câu. Tao chỉ cần chỗ nào thưởng Tết nhiều hơn chỗ này.

Bèo gật đầu. Nàng thương Lành, như thương một đứa em tuy Lành hơn nàng một tuổi. Lành nói nhiều, cười nhiều, lắm lúc tham, nhưng đêm nào Bèo trở mình vì rét, Lành cũng kéo chăn sang đắp cho nàng.

Tối mùng mười, Bèo theo một thái giám già đi lối cửa Tây vào điện Tĩnh Chính. Thư phòng ở gian cuối, rộng chừng bốn gian nhà gỗ dân thường, ba mặt là giá sách cao chạm trần. Giữa phòng dựng một tấm bình phong lụa mười hai cánh, vẽ mây và núi xa. Sau bình phong là án thư của Hoàng thượng. Trước bình phong là chỗ của nàng: một cái đôn gỗ, một khay đồ khêu bấc, một hộp nến, một ống dầu và một cây kéo nhỏ.

Đèn trong thư phòng là bốn cây đèn đứng bằng đồng cao ngang ngực, đặt ở bốn góc bình phong, ánh sáng xuyên qua lụa vào án thư. Thái giám dặn: Hoàng thượng không thích người đi qua đi lại, nên đèn đặt phía ngoài bình phong, người giữ đèn ngồi phía ngoài, không bao giờ được vòng vào.

– Hoàng thượng gọi thì ngươi thưa. Không gọi thì ngươi câm. – Ông ta nói. – Nhớ chưa?

Bèo ngồi xuống đôn.

Qua làn lụa mỏng, nàng chỉ thấy một cái bóng ngồi thẳng, đầu hơi cúi, thỉnh thoảng giơ tay lật một tập giấy. Tiếng giấy sột soạt. Tiếng bút chấm mực. Tiếng một tiếng thở dài rất khẽ, như sợ chính mình nghe thấy.

Nàng khêu bấc bốn ngọn đèn, cắt tàn, châm thêm dầu, rồi ngồi im. Canh một qua. Canh hai qua. Hai đầu gối nàng tê cứng, mắt bắt đầu cay vì khói. Nàng véo vào mu bàn tay mình mà thức. Ở bến Gián, đêm nào có khách sang sông muộn, cha nàng cũng ngồi bên đèn đò đến sáng, véo tay mà thức.

Gần canh ba, một ngọn đèn phía tây bắt đầu chập chờn. Bèo đứng dậy khêu. Bóng sau bình phong ngẩng lên.

– Ngươi là đứa mới?

Giọng nói trầm, hơi khàn, không to.

– Bẩm, vâng.

– Ở đâu tới?

– Bẩm, Ty Đăng Chúc.

– Trước khi vào cung?

Bèo do dự. Thái giám bảo không gọi thì câm, nhưng giờ người ta gọi.

– Bẩm, nô tỳ ở bến Gián, làng Vạn Lộc. Cha nô tỳ chở đò.

– Sông nào?

– Bẩm, sông Thương Ninh.

Bóng sau bình phong im một lúc.

– Mùa này nước sông Thương Ninh thế nào?

Bèo không ngờ ai đó trong cái phòng đầy sách này lại hỏi nước sông. Nàng trả lời thật: tháng Chạp nước cạn, lòng sông lộ ra những bãi cát dài, đò phải đi vòng qua doi Cá Trê, mất thêm một khắc. Gạo ở chợ bến tháng này lên bảy mươi đồng một đấu vì mất mùa chiêm. Người ta kéo nhau sang bên kia sông mua cám về độn cơm. Cha nàng chở không lấy tiền mấy bà già đi mua cám, vì thế cuối năm nhà nàng cũng chẳng dư được gì.

Nàng nói đến đó thì sực tỉnh, cúi đầu.

– Bẩm, nô tỳ nói nhiều. Xin tha tội.

– Bảy mươi đồng một đấu. – Giọng sau bình phong lặp lại, chậm. – Tấu của phủ Thương Ninh viết năm mươi.

Tiếng giấy lật. Rồi tiếng bút sột soạt, lâu.

Đến canh tư, bóng sau bình phong đứng dậy. Bèo nghe tiếng bước chân đi về phía cửa trong, rồi một câu ném lại qua vai:

– Đèn trên đò của cha ngươi treo ở mũi hay ở lái?

– Bẩm, ở mũi.

– Vì sao?

– Bẩm, cha nô tỳ bảo đèn trên đò không để soi mình. Để thuyền khác thấy mà tránh.

Bước chân dừng lại. Rồi đi tiếp. Cánh cửa trong khép lại.

Bèo ngồi đến sáng, hạ đèn, lau sạch bốn cây đèn đồng, rồi theo thái giám già ra về. Nàng không biết người ngồi sau bình phong là ai. Nàng nghĩ chắc là một viên quan Hàn lâm trực đêm, hoặc một người hầu cận được Hoàng thượng cho ngồi chép tấu. Hoàng thượng thì phải có người quỳ đầy sân, phải có tiếng hô vạn tuế, đâu có ngồi hỏi một con bé giữ đèn giá gạo ở chợ bến.

Mấy đêm sau đó, giọng nói ấy lại hỏi. Hỏi nàng đò chở mỗi chuyến bao nhiêu người. Hỏi mùa lũ có ai chết đuối không. Hỏi làng Vạn Lộc có trường học không, trẻ con có đi học không. Bèo trả lời ngắn, rồi dài hơn. Có đêm nàng kể chuyện thằng em tên Cò, mười tuổi, lặn giỏi hơn cả rái cá, mùa hè lặn mò hến bán, được tiền thì mua kẹo bột cho cả xóm. Giọng sau bình phong bật ra một tiếng cười ngắn, khô, như người lâu không cười.

Có đêm nàng hỏi lại, sau nhiều lần đắn đo:

– Bẩm, ngài làm việc ở đây đã lâu chưa?

Im lặng.

– Lâu rồi. – Giọng nói đáp. – Lâu hơn ta muốn.

Ban ngày Bèo ngủ ở Ty Đăng Chúc, chiều dậy giúp lau đèn. Để có ít trà nóng mang theo khi đi đêm, nàng làm quen với ông Phúc, lão thái giám gác Nguyệt Môn, cái cổng tròn nối Ty Đăng Chúc với dãy hành lang phía tây. Ông Phúc ngoài sáu mươi, lưng còng, ghiền trà, ngày nào cũng ngồi trong cái chòi gác nhỏ bằng hai chiếc chiếu, nấu một ấm trà trên bếp than tổ ong. Bèo đem dầu đèn thừa đổi cho ông chút than, đổi lấy chén trà. Ông kể chuyện cung mấy chục năm, chuyện nào cũng có đầu không có đuôi.

Chiều mười lăm tháng Chạp, ông Phúc rót trà cho nàng, rồi nhìn quanh, hạ giọng:

– Con bé. Cái đêm mùng chín ấy...

Bèo cầm chén trà, không uống.

– Giờ Tuất đêm ấy ta ngồi đây, mắt ta kém chứ tai ta còn thính. Có người đi từ phía Nguyệt Môn ra hành lang Tây. Không phải lính. Bước nhẹ, nhỏ, đàn bà. Cầm một cái đèn lồng.

– Ông có thấy mặt không?

– Mặt thì không. – Ông Phúc lắc đầu. – Ta chỉ thấy cái đèn. Đèn lồng giấy, không phải hình tròn như đèn cung Khôn Đức hay cung Ngọc Hoa. Nó xòe ra từng cánh. Hình hoa sen.

Bèo đặt chén trà xuống. Cả cấm thành có bốn trăm mười hai ngọn đèn thắp đêm, nàng đã treo gần hết, chưa từng thấy một cái đèn lồng nào hình hoa sen.

– Đèn ấy của cung nào, ông?

Ông Phúc nhìn nàng bằng đôi mắt đục như nước gạo.

– Ta già rồi, con bé. Ta chỉ nhớ cái hình, ta không nhớ cái tên. Mà có nhớ, ta cũng không dám nói. – Ông rót thêm trà cho nàng. – Uống đi, nguội mất.

Bèo uống, trà đắng nghét. Ngoài Nguyệt Môn, những ngọn đèn đầu tiên của hành lang Tây vừa được thắp, ánh vàng in trên nền gạch thành từng vũng tròn. Nàng đếm. Mười bảy vũng.

Đêm ấy ở thư phòng, giọng sau bình phong hỏi nàng sao im lặng thế. Nàng thưa là trời rét. Giọng nói bảo thái giám mang thêm một lò than đặt cạnh đôn của nàng.

Nàng ngồi bên lò than ấm, lần đầu tiên từ khi vào cung, và nghĩ về một cái đèn lồng hình hoa sen đi trong bóng tối, đi qua mười bảy ngọn đèn, mỗi ngọn dừng lại một lần.

— Hết chương 2 —

Mục lục Người giữ đèn hành lang Tây

  1. 1Bấc cắt sát mặt dầu11 phút đọc
  2. 2Sau tấm bình phong10 phút đọc
  3. 3Đèn kéo quân ở cung Ngọc Hoa10 phút đọc
  4. 4Cung Thanh Lộc10 phút đọc
  5. 5Hai lần bán9 phút đọc
  6. 6Đèn hoa sen9 phút đọc
  7. 7Đường đi trong bóng tối9 phút đọc
  8. 8Những người không ai nhìn thấy9 phút đọc
  9. 9Giờ Hợi ở hành lang Tây11 phút đọc
  10. 10Ngọn đèn treo ở mũi đò9 phút đọc

Về truyện này

Người giữ đèn hành lang Tây là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →