Chương 1: Bấc cắt sát mặt dầu
Đèn hành lang Tây tắt lúc nào, cả cung không ai biết. Người ta chỉ biết giờ Hợi đêm mùng chín tháng Chạp, Quý phi Tôn Uyển Hà từ cung Trường Ninh của Thái hậu trở về, đi được nửa hành lang thì bóng tối úp xuống như cái nón, và nàng trượt chân trên bậc đá phủ sương.
Tiếng kêu của thị nữ vọng qua ba lớp tường. Đến khi đèn đuốc của cung Ngọc Hoa ùa ra, Quý phi đã ngồi bệt dưới chân cột, hai tay ôm bụng. Nàng có thai bốn tháng.
Sáng hôm sau, cả Ty Đăng Chúc quỳ ngoài sân Thượng cung cục, mười hai cung nữ xếp thành hai hàng trên nền gạch lạnh như mặt nước. Khúc Thị Bèo quỳ ở hàng đầu, vì mười bảy ngọn đèn hành lang Tây là việc của nàng. Chiều hôm qua chính tay nàng châm dầu, chính tay nàng cắt bấc, chính tay nàng treo từng ngọn lên móc đồng.
Mụ Đỗ Thị Then, quản sự Ty Đăng Chúc, quỳ bên cạnh. Mụ chột một mắt, con mắt còn lại không nhìn ai, chỉ nhìn chằm chằm vào cái mâm đồng đặt trước thềm. Trên mâm là mười bảy cái đĩa đèn lấy từ hành lang Tây xuống lúc tờ mờ sáng, đĩa nào cũng còn vệt khói đen.
– Thái y nói thai vẫn yên. – Thượng cung Mai Thị Tố đứng trên thềm, giọng đều như đọc sổ. – Quý phi trẹo cổ chân, bầm một bên gối. Nhưng nếu ngã nặng hơn một chút thì cả Ty Đăng Chúc này đem ra đánh chết cũng không đền nổi. Đứa nào giữ hành lang Tây?
Bèo dập đầu.
– Bẩm, nô tỳ.
– Tên?
– Bẩm, Khúc Thị Bèo.
Có tiếng cười khẽ đâu đó trong đám thị nữ cung Ngọc Hoa đứng dưới mái hiên. Tên con gái nhà lái đò, đến chữ cũng không buồn đổi. Lúc tuyển vào cung, viên thái giám ghi sổ đã hỏi nàng có muốn lấy tên khác cho đẹp không. Nàng lắc đầu. Cha nàng ở bến Gián, làng Vạn Lộc, bảo cái tên là cái neo, nhổ đi rồi thì thuyền trôi đâu chẳng biết.
– Chiều qua ngươi châm dầu đầy chứ?
– Bẩm, đầy. Mỗi đĩa nửa bát con.
– Đầy mà đến giờ Hợi đã tắt sạch?
– Bẩm, nô tỳ không biết.
Một thị nữ lớn tuổi của cung Ngọc Hoa bước ra. Bèo biết mặt người này, tên là Liên, theo hầu Quý phi từ khi còn ở phủ Tể tướng.
– Thượng cung không cần hỏi nữa. Con này hoặc ăn bớt dầu, hoặc ngủ quên không thay bấc. Đằng nào cũng một tội. Nương nương nhà tôi nói rồi, giao người cho cung Ngọc Hoa xử.
Giao cho cung Ngọc Hoa thì không còn đường về. Mười một cung nữ phía sau Bèo im phăng phắc, không ai dám thở mạnh. Đứa nằm cạnh giường nàng, Kim Thị Lành, quỳ ở hàng thứ hai, Bèo không quay lại cũng biết hai bàn tay Lành đang vặn vào nhau.
– Bẩm Thượng cung. – Bèo ngẩng lên. – Nô tỳ xin được xem lại mấy cái đĩa đèn.
Thượng cung Tố nhíu mày, nhưng không cấm. Bèo bò lên hai bước, cầm cái đĩa đầu tiên. Dầu lạc trong đĩa đã đông lại thành một lớp mỡ vàng đục vì đêm qua trời rét. Nàng nghiêng đĩa ra ánh sáng. Mặt dầu còn quá nửa.
Nàng cầm cái thứ hai, thứ ba, thứ tư. Cái nào cũng thế.
– Bẩm. – Nàng giơ đĩa đèn lên cao. – Dầu còn quá nửa. Nếu nô tỳ ăn bớt dầu thì đèn phải cạn khô. Nếu nô tỳ không thay bấc thì bấc phải cháy đến tận chân, thành than. Nhưng Thượng cung xem bấc này.
Nàng dùng móng tay khều cái bấc lên. Chỉ còn một mẩu ngắn bằng đốt ngón tay út, đầu bấc chìm hẳn trong lớp dầu đông.
– Bấc của Ty Đăng Chúc cắt dài hai đốt tay, phần ngâm dầu một đốt, phần nhô lên một đốt. Cháy đến canh tư mới phải khêu. Bấc này bị cắt sát mặt dầu. Châm lửa vẫn cháy được, nhưng chỉ cháy một lúc, đến khi dầu nóng lên dâng ngập đầu bấc thì lửa chết đuối.
Thượng cung Tố im một lúc.
– Ngươi nói có người cắt bấc?
– Bẩm, nô tỳ chỉ nói bấc bị cắt.
Liên cười nhạt.
– Bấc ngắn thì do con nhãi này cắt ngắn chứ còn ai. Nói lắm.
– Bẩm, nếu nô tỳ cắt ngắn ngay từ chiều thì đèn tắt từ giờ Dậu, lúc trời vừa sẩm. Hành lang Tây có lính đi tuần qua lúc giờ Tuất, họ phải thấy. Đèn sáng đến giờ Tuất rồi mới tắt, nghĩa là có người cắt bấc sau giờ Tuất.
Câu ấy rơi xuống sân như hòn sỏi rơi xuống giếng. Mụ Đỗ quay hẳn cái mắt còn lại sang nhìn Bèo, lần đầu tiên trong buổi sáng.
Thượng cung Tố cho người mang ra một cái đĩa đèn mới, một ống dầu, một cuộn bấc và một cây kéo. Bà bảo Bèo làm lại trước mặt mọi người. Bèo rót dầu, cắt bấc sát mặt dầu như mẩu bấc trong đĩa, đặt lên bậc thềm chỗ gió lùa. Một thái giám thắp nén hương bên cạnh.
Cả sân đứng nhìn ngọn lửa bé như hạt đỗ. Lúc đầu nó cháy đều. Dầu nóng dần, mặt dầu nhích lên từng chút, liếm vào chân lửa. Ngọn lửa co lại, xanh lét, rồi phụt một cái, chỉ còn sợi khói mảnh cuộn lên trong gió.
Nén hương mới cháy được một phần ba.
– Một phần ba nén hương. – Mụ Đỗ lên tiếng, giọng khàn như vỏ trấu. – Bẩm Thượng cung, già này giữ đèn bốn mươi năm, chưa thấy bấc nào tự cắt mình.
Thượng cung Tố nhìn cái đĩa đèn đã tắt, lại nhìn Liên. Hành lang Tây chạy dọc bức tường phía tây cung Khôn Đức, nơi ở của Hoàng hậu. Ai cũng biết điều đó. Ai cũng biết nếu có người cắt bấc sau giờ Tuất thì người ấy đã đi trên một hành lang mà một bên là tường cung Hoàng hậu.
Không ai nói ra câu ấy. Nhưng Bèo nhìn thấy mặt Liên trắng đi rồi đỏ lên, và nàng hiểu mình vừa mở một cánh cửa mà mình không biết nó dẫn đi đâu.
– Tạm giam con bé ở Ty Đăng Chúc. – Thượng cung Tố nói. – Không ai được đưa đi đâu khi chưa có lệnh của ta.
Liên phẩy tay áo bỏ về. Đám cung nữ đứng dậy, chân tê dại, xiêu vẹo đi về dãy nhà ngang. Lành chạy tới khoác lấy tay Bèo, hai bàn tay lạnh như hai con cá.
– Mày điên à? – Lành thì thầm. – Mày cãi tay Liên ngay giữa sân?
– Tao không cãi. Tao nói cái bấc.
– Thì cũng thế!
Ty Đăng Chúc nằm ở góc đông bắc cấm thành, sau dãy kho của Thượng cung cục, là một dãy nhà thấp lúc nào cũng thoang thoảng mùi dầu lạc và mùi khói. Gian giữa kê hai cái bàn gỗ dài, trên bàn chất đầy đèn đủ loại: đèn đĩa, đèn ống, đèn lồng giấy, đèn lồng lụa, đèn kéo quân đang dán dở cho Tết. Mười hai cung nữ ngồi hai bên bàn, cả ngày lau đèn, vót nan, cắt bấc, dán giấy. Đến giờ Thân thì chia nhau đi khắp cấm thành treo đèn, đến giờ Mão sáng hôm sau lại đi hạ đèn về.
Cả cung có bốn trăm mười hai ngọn đèn thắp đêm. Mụ Đỗ thuộc từng ngọn.
Chiều hôm ấy Bèo không được đi treo đèn. Nàng ngồi ở góc bàn, buộc dây treo cho một chồng đèn lồng giấy đỏ. Đó là việc của kẻ bị phạt, việc chán nhất Ty Đăng Chúc: mỗi cái đèn lồng có bốn sợi dây, bốn sợi gom vào một cái vòng, cái vòng móc lên cán tre.
Bèo buộc theo cách cha nàng dạy. Vòng dây một lần quanh vòng tre, luồn ngược lên, quấn hai vòng quanh chính nó, rồi rút. Ở bến Gián, cha nàng buộc thuyền vào cọc bằng cái nút ấy. Ông gọi là nút đò. Nước kéo, thuyền giằng, nút càng chặt. Nhưng khi người lái muốn đi, chỉ cần đứng trên bến giật đầu dây một cái, nút tuột ra như chưa từng buộc.
– Cái gì đây? – Mụ Đỗ đứng sau lưng nàng từ lúc nào.
– Bẩm, nút buộc đèn.
– Nút của Ty Đăng Chúc là nút hoa mai. Ta dạy chúng mày từ ngày đầu.
– Bẩm, nút hoa mai đẹp nhưng gió to thì xổ. Tháng trước ở cổng Bắc rơi mất hai cái.
Mụ Đỗ nhìn nàng một lúc lâu, cái nhìn của người quen nhìn lửa, không chớp.
– Làm lại ta xem.
Bèo làm lại, chậm. Mụ Đỗ cầm cái đèn lồng lên, giật mạnh mấy cái từ phía đèn. Nút không nhúc nhích. Mụ đổi tay, cầm đầu dây thừa giật một cái. Nút tuột ra, rơi lả tả.
– Hừ. – Mụ đặt cái đèn xuống. – Ở đâu ra cái nút ấy?
– Bẩm, cha nô tỳ chở đò.
– Chở đò. – Mụ lặp lại như nhai một hạt sạn. – Thế cha mày có dạy mày đèn trên đò để làm gì không?
– Bẩm, có. Cha nô tỳ bảo đèn trên đò không để soi mình. Để thuyền khác thấy mà tránh.
Mụ Đỗ không nói gì nữa. Mụ quay đi, vừa đi vừa cằn nhằn với cái chổi lông gà trong tay. Nhưng chiều hôm ấy, mụ không bắt Bèo tháo nút ra làm lại.
Ngồi đối diện Bèo bên kia bàn là Lành. Lành nhanh tay hơn ai hết ở Ty Đăng Chúc, dán đèn lồng đẹp đến mức cung Ngọc Hoa từng xin người. Mụ Đỗ không cho. Lành tiếc mãi.
– Dạy tao với. – Lành chống cằm nhìn hai bàn tay Bèo. – Nút gì mà mụ chột cũng phải chịu.
– Nhìn đây. Vòng một lần, luồn lên, quấn hai vòng, rút.
Lành làm theo, sai, làm lại, lại sai. Đến lần thứ năm thì được. Lành giơ cái đèn lên, cười tít mắt, hai lúm đồng tiền sâu hoắm.
– Dễ ợt.
Bèo cũng cười. Nàng không để ý, vì Lành ngồi đối diện, nên Lành học cái nút như người ta soi gương. Mọi vòng dây của Lành đều quấn theo chiều ngược lại. Nút vẫn chặt, vẫn tuột được, chỉ có điều nó là bóng của cái nút nàng buộc. Mãi về sau Bèo mới nghĩ lại cái buổi chiều ấy, và mãi về sau nàng mới hiểu một cái nút buộc ngược có thể nặng bằng mấy mạng người.
Tối, mười hai cung nữ nằm trên hai dãy phản. Bèo nằm cạnh Lành như mọi đêm. Lành kể chuyện mẹ ở phố Hàng Thùng ngoài cửa Nam, bệnh ho mấy năm không dứt, nợ hiệu thuốc đầu ngõ đã lên đến bốn quan. Bốn quan là bốn tháng lương của cả hai đứa cộng lại.
– Giá mà được vào cung lớn. – Lành nói vào bóng tối. – Như cung Ngọc Hoa ấy. Thị nữ ở đó Tết được thưởng nửa lạng bạc.
– Mày muốn hầu Quý phi à?
– Ai chẳng muốn. Quý phi có hoàng trưởng tử. Mai kia hoàng tử làm Thái tử thì...
Lành bỏ lửng. Bèo không đáp. Ngoài kia gió bấc thổi qua mái ngói, nghe như có ai đi trên hành lang.
Nàng nghĩ về mười bảy mẩu bấc ngắn. Muốn cắt mười bảy cái bấc trên một hành lang dài chừng ba trăm bước, mỗi ngọn treo cao quá đầu người, phải có thang hoặc có sào móc. Phải đi chậm, phải dừng mười bảy lần. Phải biết chắc trong khoảng thời gian ấy không có lính tuần qua. Và phải biết chắc rằng giờ Hợi, Quý phi sẽ đi đường ấy về.
Không phải kẻ thù vặt vãnh nào cũng làm được. Phải là người biết giờ.
Gần nửa đêm, cửa Ty Đăng Chúc có tiếng gõ. Mụ Đỗ cầm đèn ra mở. Một nữ quan áo xanh lam đứng ngoài, sau lưng là hai thái giám cầm đèn lồng lụa trắng thêu chim phượng nhỏ. Đèn của cung Khôn Đức.
– Khúc Thị Bèo. – Nữ quan nói. – Hoàng hậu cho gọi.
Lành bật dậy, túm lấy vạt áo Bèo. Cả dãy phản im như mặt hồ.
Bèo xỏ chân vào đôi giày vải. Lúc nàng đi ngang qua mụ Đỗ, mụ không nhìn nàng, chỉ nói khẽ, như nói với ngọn đèn trên tay:
– Hoàng hậu không hỏi hai lần. Nghĩ trước khi nói.
Nàng bước ra sân. Gió bấc lùa vào cổ áo. Phía trước, hai ngọn đèn lồng trắng lắc lư trên tay hai thái giám, dẫn nàng đi qua đúng hành lang Tây.
Đêm nay mười bảy ngọn đèn trên hành lang vẫn sáng. Không phải do nàng treo. Bèo đi qua từng ngọn, ngẩng lên nhìn, và thấy ngọn thứ chín bấc đã cháy lụi gần chạm mặt dầu.
Nàng dừng lại nửa bước. Rồi nàng nghĩ, đêm nay mình đâu còn là người giữ đèn ở đây nữa, và bước tiếp về phía cánh cửa sơn son của cung Khôn Đức đang mở hé, bên trong không có tiếng người.
— Hết chương 1 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe