Chương 1: Vệt muối trên đá thử
Viên đá thử căn đặt giữa sân đình làng Cồn Muối to bằng cái cối giã gạo, màu xám như lưng cá đối, và khi Lê Văn Đọi úp bàn tay lên, nó không sáng.
Nó chỉ hiện một vệt trắng mỏng, chạy ngang mặt đá rồi tắt ở giữa chừng, giống hệt cái viền muối khô đọng trên vành chum sau một ngày nắng. Người tiên sư áo lam ngồi sau chiếc bàn gỗ cúi xuống nhìn, nhìn lâu hơn mọi lần, rồi cầm bút lông chấm mực.
– Một vệt, đứt. Hạ phẩm, hạ hạ. Về đi con.
Đọi không rút tay ra. Mặt đá mát lạnh, lòng bàn tay nó dính cát và nước muối, để lại trên đá một vết ướt hình năm ngón. Phía sau nó, mười mấy đứa trẻ trong làng đứng xếp hàng, đứa nào cũng chân đất, đầu cắt trọc cho mát, mắt dán vào nó.
– Thưa thầy, con úp lại được không? Tay con dính muối.
Người tiên sư ngẩng lên. Ông còn trẻ, chừng ba mươi, môi mỏng, cái kiểu người đã nói câu "về đi con" cả trăm lần ở cả trăm sân đình dọc bờ biển.
– Muối không làm đá mờ đi. Đá đo cái cửa trong người con, không đo cái tay. Người kế.
Thằng Hựu nhà ông trùm vó đẩy nhẹ vai Đọi. Đọi bước sang một bên, đứng sát cột đình, nhìn thằng Hựu úp tay xuống. Đá vẫn xám. Thằng Hựu lủi đi, mặt đỏ như con ghẹ luộc. Rồi tới con Thắm, rồi thằng Cu Bèo. Cả buổi chiều, đá Cồn Muối không sáng lấy một lần cho ra hồn. Chỉ có vệt trắng đứt của Đọi là thứ nó chịu cho thấy.
Năm năm một lần, thuyền của Lam Hải Tông chạy dọc bờ biển tìm trẻ có linh căn. Làng Cồn Muối nằm giữa hai cửa lạch, đất bạc như tro, chỉ có ruộng muối, nắng và gió. Từ đời ông cố Đọi tới giờ, chưa đứa nào trong làng lên được núi Vọng Triều.
Nắng chiều xiên qua mái đình, hắt lên tấm phên mấy vệt vàng như rơm. Ngoài kia, trên mặt ruộng muối, những luống nước đã kết cái váng trắng đầu tiên. Đọi nhìn ra, tự dưng nghĩ tới chuyện khác. Mạ nó chắc đang đứng một mình ngoài ô ruộng thứ bảy, cái ô sát bờ đầm, và nếu nó không ra kịp trước khi mặt trời lặn thì muối ô ấy sẽ đọng sương đêm, sáng mai thành muối ướt, bán không ai mua.
Nó chạy.
Ruộng muối Cồn Muối không phải loại ruộng đổ nước biển phơi thẳng. Làng nó phơi cát. Sáng sớm người ta tưới nước biển lên mặt cát đã cào tơi, nắng hút nước đi, muối bám vào hạt cát. Trưa cào cát vào chạt lọc, đổ nước biển qua, nước chảy xuống hố thành nước chạt mặn gắt. Chiều mới đem nước chạt đổ vào ô nề lót đá, phơi tiếp. Một ô nề nắng tốt cho chừng ba gánh muối hạt to, trắng đục, cắn nghe sựt sựt dưới răng.
Mạ Đọi đang cầm cái trang gỗ gạt muối vào đống. Bà gầy, lưng hơi còng, cái nón lá buộc dây vải dưới cằm. Thấy nó chạy tới, bà không hỏi chuyện ngoài đình.
– Gạt bên ni cho mạ. Bên tê kết rồi, đừng đụng.
Đọi cầm trang, gạt từ mép ô vào. Muối dồn thành một đống nhọn, hạt to như hạt bắp. Chỗ góc ô sát bờ đất, nơi nước cạn chậm nhất vì bóng cây phi lao che nửa buổi, hạt muối to hơn hẳn, có hạt bằng đầu ngón tay út, vuông vức như cục đường phèn.
Tí, em trai nó, bảy tuổi, ngồi chồm hổm trên bờ ô, bốc một hạt lên ngắm.
– Anh Đọi, răng hạt ni to rứa?
– Tại chỗ nớ khô chậm. – Đọi nói, tay không ngừng. – Nước bay hơi chậm thì muối có thời gian đứng lại với nhau, hạt ni bám hạt tê, lớn dần. Còn chỗ nắng gắt, nước bay vèo, muối kết vội, ra hạt nhỏ, vụn như cát.
– Rứa răng mình không cho khô chậm hết?
– Chậm hết thì một ngày ra được nửa gánh. Mạ lấy chi nuôi mi.
Tí cười khanh khách, ném hạt muối vào miệng ngậm, nhăn mặt vì mặn.
Có tiếng người ho khan sau lưng. Đọi quay lại. Một ông già đứng trên bờ ruộng, chống cây gậy tre, cái áo lam bạc màu như áo của người tiên sư ngoài đình nhưng cũ hơn, ống quần xắn cao. Chân phải ông khuỳnh ra một bên, đứng nghiêng như cây cọc đóng lệch. Ông đã đứng đó từ lúc nào, Đọi không biết.
– Thằng nhỏ, – ông nói, giọng khàn như gió lùa qua khe vách, – mi nói lại cái câu vừa rồi xem.
– Dạ, câu mô ạ?
– Cái câu nước bay chậm thì hạt đứng lại với nhau.
Đọi nói lại. Ông già gật đầu chầm chậm, như người nghe giá cá ngoài chợ, rồi cúi xuống, nhặt hạt muối to nhất trong đống, đưa lên sát mắt. Mắt ông đục một bên.
– Mi là đứa có một vệt đứt trên đá thử phải không?
– Dạ.
– Một vệt đứt nghĩa là cửa hải trong người mi hẹp như cái lỗ kim. Mi kéo linh khí vào chậm gấp mười đứa thường, gấp năm mươi đứa giỏi. Người ta mất ba năm thì mi mất ba mươi. Mi hiểu không?
– Dạ hiểu. – Đọi đáp, rồi ngừng một chút. – Mà ông là ai ạ?
Mạ Đọi đã đặt cái trang xuống. Bà kéo vành nón lên, nhìn ông già, ánh nhìn của người đàn bà ở làng biển đã quen nghe những lời hứa từ ngoài khơi đưa vào.
– Tôi là Tạ Văn Phù, coi ruộng sương cho Lam Hải Tông. – Ông già nói với bà, không với Đọi. – Ruộng sương cần người làm. Dịch đồ, tức là người làm công trên núi, ký mười năm. Được ăn, được ở, được học khẩu quyết dẫn khí cấp thấp nhất. Mỗi tháng tông môn gửi về nhà nửa lượng bạc. Trong một năm, nếu nó tự kéo được linh khí tới con nước thứ ba, nó được ghi tên đệ tử ngoại môn. Không tới thì nó làm công tới hết mười năm, rồi xuống núi.
Nửa lượng bạc một tháng. Mạ Đọi bán muối cả mùa khô, trừ tiền thuê ô, trừ thuế bến, còn được chừng bốn lượng. Bà đứng im. Gió đầm thổi tới, mang mùi bùn và mùi rong phơi.
– Ông nói nó chậm gấp mười. – Bà nói. – Rứa răng ông lấy nó?
Ông Phù đặt hạt muối vào lòng bàn tay bà.
– Vì nó biết hạt muối ni tại răng to.
Tối hôm đó cả nhà ăn cơm muộn. Mạ kho một nồi cá nục với nước màu, thêm mấy trái ớt xiêm. Tí ăn ba chén rồi lăn ra chiếu ngủ. Ngọn đèn dầu lạc leo lét, bóng mạ đổ lên vách tre, to hơn người thật.
– Mi muốn đi không? – Mạ hỏi, mắt nhìn nồi cá.
– Con đi thì ai gánh chạt cho mạ?
– Tau hỏi mi muốn đi không, tau không hỏi ai gánh chạt.
Đọi gắp miếng cá, bỏ vào chén mạ.
– Con muốn.
Mạ không nói gì nữa. Bà dọn chén, đem ra cầu ao rửa. Đọi nằm trên chiếu, nghe tiếng chén va nhau ngoài cầu ao lâu hơn mọi khi, rồi nghe tiếng sóng ở cửa lạch xa xa, rì rào như người ta xay lúa.
Mùa muối năm đó còn hai tháng. Hai tháng nắng đẹp nhất trong năm. Cả nhà sống bằng hai tháng ấy. Không có nó, mạ phải thuê người gánh chạt, mỗi ngày hai mươi đồng, và cái lưng của mạ sẽ còng thêm một chút.
Đó là cái giá đầu tiên. Đọi biết rõ nó, như biết số gánh muối trong một ô nề.
Sáng hôm sau, thuyền Lam Hải Tông nhổ neo ở cửa lạch Đông. Đó là chiếc thuyền buồm ba cột, thân sơn màu chàm, mũi thuyền khắc hình con sóng cuộn. Trên boong đã có mười một đứa trẻ được tuyển từ các làng phía nam, đứa nào cũng mặc áo mới, đứa nào cũng có cha mẹ đứng dưới bến khóc hay vẫy tay. Đọi đi sau ông Phù, khoác cái tay nải vải, bên trong có hai bộ áo, một đôi dép mo cau và một nắm cơm muối mè.
Mạ đứng dưới bến, không khóc. Bà đưa cho nó một cái ống lồ ô dài chừng một gang tay, hai đầu bịt nút gỗ.
– Muối ô thứ bảy. – Bà nói. – Hạt to nhất mạ lựa ra. Mi lên trên nớ, nhớ nhà thì ngậm một hạt.
Đọi lắc thử. Bên trong kêu lạo xạo.
– Muối phơi đủ nắng mới mặn. – Mạ nói thêm, giọng bình thường, như dặn nó đừng quên khép cửa chuồng gà. – Mi đừng nóng ruột.
Rồi bà quay lưng, đi về phía ruộng, cái nón lá nhấp nhô giữa những đống muối trắng. Tí chạy theo bà, ngoái lại vẫy, vẫy mãi cho tới khi thuyền ra khỏi lạch.
Trên boong, một thằng con trai trạc tuổi Đọi đang nôn ọe qua mạn thuyền. Nó mặc áo lụa màu nước biển, đeo ngọc bội bên hông, tóc búi gọn bằng trâm bạc. Một gã người hầu đứng cạnh, tay cầm cái hộp sơn mài nhỏ.
– Cậu Viễn uống viên này đi, cho đỡ say sóng.
Thằng con trai gạt phắt tay gã.
– Mày tưởng tao là ai? Song linh căn trung phẩm mà phải uống thuốc chống say sóng như mấy đứa nhà quê à?
Nó vừa nói xong lại gập người nôn tiếp. Gã người hầu kiên nhẫn đứng chờ. Đọi nhìn cái hộp sơn mài. Trong hộp, ngoài mấy viên thuốc màu nâu, còn một ngăn riêng lót lụa, đựng ba viên tròn màu đỏ thẫm, bóng như hột điều.
Thằng con trai áo lụa nhìn thấy Đọi đang nhìn. Nó lau miệng, đứng thẳng lên.
– Mày nhìn gì? Mày là đứa ông già què kia nhặt ở ruộng muối phải không? Tao nghe nói rồi. Một vệt đứt.
Mấy đứa khác trên boong cười rúc rích. Đọi không đáp. Nó đi về phía đuôi thuyền, nơi ông Phù đang ngồi trên một cuộn dây thừng, tay vê điếu thuốc lào chưa châm.
– Thằng đó là Kiều Minh Viễn. – Ông Phù nói, không cần nó hỏi. – Con nhà buôn tơ ở cảng Hội Thành. Hai năm nữa nó lên Tụ Hải, bốn năm nữa nó Kết Tinh, tông môn sẽ đem tên nó đi khoe khắp bốn biển.
– Còn con thì sao ạ?
Ông Phù châm thuốc. Khói thuốc lào cay xè bay ngược về phía bờ, nơi Cồn Muối đã thành một vệt trắng mờ dưới chân trời.
– Mi biết tau đưa mấy đứa dịch đồ lên núi rồi không?
– Dạ không.
– Mười đứa. Trong mười năm. Mi là đứa thứ mười một.
Đọi chờ ông nói tiếp. Ông hút thêm một hơi, ho sù sụ, rồi Đọi nghe thấy một tiếng rất lạ, từ trong ngực ông, lẫn trong tiếng ho: một tiếng lạo xạo khô khốc, giống như ai bóp một nắm sạn trong lòng bàn tay.
– Mười đứa trước, – ông Phù nói, khi đã thở lại được, – giờ chỉ còn một đứa còn tu. Chín đứa kia không chết. Chúng nó chỉ đi nhanh quá.
Ông dụi điếu thuốc vào mạn thuyền, đứng dậy, chống gậy đi về phía khoang. Đọi ngồi lại một mình ở đuôi thuyền, tay nắm cái ống lồ ô. Phía trước, giữa biển, núi Vọng Triều nhô lên khỏi lớp sương sớm, xanh thẫm, đỉnh núi bị mây quấn, như một cái răng khổng lồ cắm xuống mặt nước.
Nó mở nút ống, đổ ra một hạt muối, đặt lên lưỡi. Mặn chát. Rồi, chậm lắm, một vị ngọt hậu lan ra hai bên má, vị ngọt chỉ có ở muối phơi đủ ngày.
Nó không biết "đi nhanh quá" nghĩa là gì. Nhưng nó nhớ tiếng lạo xạo trong ngực ông Phù, và đêm đó trong khoang thuyền, giữa tiếng sóng vỗ mạn, nó nằm mơ thấy cả một ô nề muối vỡ vụn dưới chân mình như vỏ trứng.
— Hết chương 1 —
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe