Chương 4: Đàn cua đá mùa nước kém
Con cua đá to nhất ở rạn Hòn Mỏ có cái mai rộng bằng mặt chiếc nong phơi cá, và khi nó giơ càng lên, ánh trăng hắt vào mép càng sáng như lưỡi rựa vừa mài.
– Ta đánh bây giờ. – Kiều Minh Viễn nói, tay đã đặt lên chuôi kiếm.
– Chưa được. – Đọi nói. – Nước còn đang ròng. Chờ nước đứng.
– Chờ nữa thì nó ăn hết lưới của dân. Mày coi ai là trưởng đội ở đây?
Bốn người nằm sấp sau một tảng đá phủ hà, cách con cua chừng ba mươi bước. Dưới chân họ, mặt rạn lộ ra lởm chởm, nước biển rút dần, để lại những vũng nước nhỏ sáng loáng dưới trăng. Xa xa, ngoài mép rạn, sóng vỗ trắng xóa.
Đã hai năm từ ngày khảo hạch. Đọi mười bảy tuổi, cao lên một cái đầu, vai rộng ra, nhưng vẫn đen nhẻm như hồi ở Cồn Muối. Hai năm, nó ngủ trong cái chòi tranh của ông Phù sát ruộng sương, vì ngoại môn ghi danh theo điều thứ bảy không có chỗ trong dãy nhà ngói. Sáng nó vẫn hứng sương, ông Phù trả nó hai mươi đồng mỗi tháng bằng tiền riêng của ông, nó gửi hết về nhà. Đêm nó kéo triều.
Hai năm, nó lên tới con nước thứ chín, đỉnh của Dẫn Triều.
Không ai tin nổi. Một vệt đứt, đáng lẽ phải mất cả chục năm. Nhưng Đọi biết vì sao. Ông Phù cho nó thấy, bằng một cái chum sành nứt chân chim và một cái chum lành. Đổ nước vào cái chum nứt thật nhanh thì nó đầy nhanh, rồi rò ra từng giọt, đêm qua sáng ra còn nửa. Đổ vào cái chum lành thật chậm thì lâu đầy, nhưng đầy rồi là đầy. Đám đệ tử kéo triều vội vã, Hải của họ gợn sóng, linh khí vào nhiều mà rò cũng nhiều. Hải của Đọi lặng như ô nề. Nó kéo vào được bao nhiêu, nó giữ được bấy nhiêu.
Còn cửa hải, cái lỗ kim ấy, dùng lâu thì mòn rộng ra một chút, như lối mòn trên bờ ruộng.
Kiều Minh Viễn thì đã Kết Tinh. Mười bảy tuổi, nhanh hơn lời ông Phù đoán một năm. Cả Lam Hải Tông mở tiệc, trưởng lão Cát đích thân cài lên ngực áo nó tấm huy hiệu bạc hình con sóng, nói nó là đệ tử Kết Tinh trẻ nhất ba mươi năm nay. Đêm hôm đó, đi ngang qua dãy nhà ngói, Đọi thấy gã người hầu nhà họ Kiều ngồi trên bậc thềm, đếm lại những ngăn rỗng trong cái hộp sơn mài.
Lần này là nhiệm vụ của tông môn. Dân làng chài ở cửa Nhượng, phía đất liền đối diện núi Vọng Triều, gửi đơn lên: một đàn cua đá có linh khí kéo về rạn Hòn Mỏ từ đầu mùa nước kém, cắt nát lưới, lật cả thúng chai, một ông lão đã bị kẹp gãy chân. Viễn nhận làm trưởng đội. Hai người kia là anh em họ Lạc, ngoại môn Tụ Hải. Đọi được ghép vào cuối cùng, vì chấp sự nói đội cần một người khiêng đồ, và vì không ai khác chịu đi chung với đứa ở chòi tranh.
Sáng nay, trước khi ra rạn, Đọi đi hỏi một ông già vá lưới ngoài bãi. Ông già ngồi dưới gốc phi lao, trước mặt là tấm lưới rách tơi tả, tay cầm con thoi tre.
– Rạn Hòn Mỏ nước lên răng rứa chú?
– Lên lẹ như ngựa chạy. – Ông già nói, không ngẩng đầu. – Mùa nước kém, ròng lâu, rồi đứng chừng nửa khắc, rồi lên một cái ào. Phía bắc rạn có cái lạch, nước lên vô đó trước, cắt ngang. Ai ra rạn mà không về kịp lúc nước đứng thì bơi. Bơi thì đừng bơi thẳng vô bờ, dòng rút nó kéo ngược. Bơi ngang, theo mé nước vàng.
– Mé nước vàng?
– Nước sâu thì xanh thẫm. Nước cạn trên doi cát thì vàng, đục. Từ rạn vô bờ có một doi cát chìm, chỉ hiện ra lúc nước nhóng, người trong xóm gọi là đường Cá Đối.
Đọi cảm ơn, để lại cho ông hai cái bánh tráng nướng.
Giờ nằm sau tảng đá, nó nhìn ra mép rạn. Nước vẫn còn rút. Nó đã nói với Viễn từ chiều: đánh lúc nước đứng, cua lên ăn hết, cua ở xa mép nước nhất, và mình có nửa khắc trước khi nước lên. Đánh bây giờ, cua chạy được ra mép nước, nhảy xuống, mình đuổi theo ra tận ngoài.
Viễn không nghe. Hoặc nghe mà không muốn nghe từ miệng nó.
– Họ Lạc, theo ta.
Ba người lao ra. Viễn ở Kết Tinh, chân không chạm đá, lướt trên mặt rạn như con chim cốc là là trên nước, kiếm vung lên một vệt sáng xanh. Con cua lớn quay lại, giơ cả hai càng. Mấy con cua nhỏ hơn, mỗi con cỡ cái nia, từ các hốc đá bò ra, lạch cạch, lạch cạch, tiếng vỏ cứng cọ vào đá nghe rợn sống lưng.
Đọi nằm lại một hơi thở. Rồi nó cũng chạy theo.
Lúc đầu, mọi thứ diễn ra như Viễn tính. Kiếm Kết Tinh chém vào mai cua, mai cua nứt, mấy con nhỏ bị anh em họ Lạc dồn vào góc. Nhưng con cua lớn không đánh. Nó lùi. Lùi từng bước, lạch cạch, về phía mép rạn, nơi nước đã rút tới cạn nhất. Viễn đuổi theo, càng lúc càng xa bờ.
– Anh Viễn! – Đọi gào lên. – Đừng theo nữa! Nước sắp đứng rồi!
Viễn không quay lại. Con cua lớn đã tới mép rạn. Nó dừng, quay lại, và lần này nó không lùi nữa. Cái càng phải, to như cái cối, kẹp lấy thanh kiếm của Viễn. Viễn giằng. Kiếm không ra. Cái càng trái vung lên, kẹp lấy ngang người anh.
Đọi nghe thấy tiếng đó. Rất khẽ, chìm trong tiếng sóng, nhưng nó nghe rõ như nghe tiếng mạ gọi: tiếng sạn nghiến, phát ra từ trong ngực Kiều Minh Viễn, khi cái càng cua siết vào.
Nó không biết mình đã chạy ra tới mép rạn bằng cách nào. Nó chỉ biết khi nó tới nơi, Viễn đang tái mét, há miệng thở mà không ra hơi, linh khí Kết Tinh quanh người anh lẽ ra phải đẩy văng cái càng ra như đẩy một cọng rơm, giờ chập chờn như ngọn đèn trước gió. Đọi không có kiếm. Nó cầm cái mác ngắn của người khiêng đồ, nhắm vào khớp càng, chỗ vỏ mỏng nhất, chỗ mà hồi bé nó vẫn bẻ để lấy thịt ghẹ, đâm vào.
Mũi mác trượt trên vỏ, cắt ngược vào tay nó. Nó đâm lại. Lần này mác ngập vào khớp. Càng cua giật mạnh, mở ra. Viễn rơi xuống vũng nước, ho sặc sụa. Con cua lớn rút càng, lùi về mép rạn, rồi nhảy ùm xuống biển.
Và đúng lúc đó, nước đứng.
Không ai trên rạn nhận ra, trừ Đọi. Sóng ngoài mép rạn ngừng rút. Mặt nước trong các vũng phẳng lại, không chảy về đâu nữa. Gió đổi chiều. Ở Cồn Muối, lúc nước đứng mạ nó hay nói một câu: "Coi chừng, sắp lên đó."
– Họ Lạc! Về bờ! Ngay!
Anh em họ Lạc ở gần bờ hơn, nghe tiếng nó, chạy. Đọi xốc Viễn dậy, quàng tay anh qua vai mình. Viễn nặng trịch, chân lết không nổi. Khi hai người đi được chừng hai chục bước, nước bắt đầu lên. Không phải lên từ từ. Nước tràn vào từ phía bắc rạn, qua cái lạch ông già nói, cuồn cuộn như nước vỡ bờ ô, cắt ngang mặt rạn giữa hai người và bờ.
Đọi nhìn quanh. Nước ở khắp nơi, đen ngòm dưới trăng. Rồi nó nhìn kỹ hơn. Phía bên trái, nơi ánh trăng hắt xuống, có một vệt nước khác màu. Không xanh thẫm. Vàng nhạt, đục, như nước gạo.
– Đi theo tui. Đi ngang, đừng đi thẳng.
Nó kéo Viễn lội xuống. Nước lên tới gối, lên tới bụng, lạnh buốt. Dưới chân là cát, cát chắc, đúng là một doi cát chìm. Dòng nước rút kéo mạnh về phía biển, kéo ngược hai người, nhưng Đọi không cưỡng lại, nó đi chéo, đi ngang theo vệt nước vàng, từng bước một, chân dò trước khi đặt xuống. Viễn thở hổn hển bên tai nó, có lúc trượt chân, kéo cả hai người chìm xuống. Đọi uống mấy ngụm nước biển, mặn chát, mặn như hạt muối mạ để trong ống lồ ô.
Họ lên được bờ khi trăng đã ngả về tây. Anh em họ Lạc đang đứng trên bãi với mấy người làng chài cầm đuốc. Ông già vá lưới cũng ở đó.
– Đi đường Cá Đối hả? – Ông hỏi Đọi.
– Dạ.
– Giỏi. – Ông nói, như người ta khen một đứa cháu biết vá lưới.
Viễn nằm trên cát, mắt nhắm. Đọi quỳ bên cạnh, cầm cổ tay anh bắt mạch theo cách ông Phù dạy. Linh khí Kết Tinh trong người Viễn chạy lộn xộn, có chỗ đặc, có chỗ trống. Và khi Viễn thở, rất khẽ, vẫn còn tiếng lạo xạo.
– Anh Viễn. Anh nghe tui hỏi không. Cái tiếng trong ngực anh...
Viễn mở mắt. Ánh đuốc chập chờn trên mặt anh.
– Không có tiếng gì hết. – Anh nói, khàn khàn. – Mày nghe lầm. Đừng nói với ai.
– Anh uống bao nhiêu viên?
Viễn nhìn nó rất lâu. Rồi anh quay mặt đi, nhìn ra biển.
– Mười một.
Bàn tay trái của Đọi bị càng cua cắt một đường từ gốc ngón út tới cổ tay, sâu tới xương. Ông già vá lưới đắp cho nó một nắm lá giã, băng lại bằng vải lưới cũ. Về sau vết thương lành, nhưng ngón út và ngón áp út bàn tay trái không bao giờ cảm thấy nóng lạnh nữa.
Đêm đó, Đọi không ngủ. Nó ngồi một mình trên bãi cát cửa Nhượng, quay mặt ra biển, chờ con nước rạng sáng. Bàn tay trái nhức nhối. Nó nghĩ tới tiếng sạn trong ngực Viễn, nghĩ tới mười một viên thuốc đỏ, nghĩ tới bụi trắng trong lòng bàn tay Lũy.
Khi chân trời ửng xám, linh triều dâng lên từ biển, đậm hơn mọi buổi sáng nó từng ngồi trên núi. Nó không làm gì cả. Nó để triều chảy vào. Và lần đầu tiên, Hải của nó, cái ô nề lặng lẽ đã đầy tới con nước thứ chín, không nhận thêm nước nữa. Thay vào đó, nước trong Hải bắt đầu đặc lại. Đặc từ từ, như nước chạt đổ vào ô nề, như nắng trưa hút đi từng chút hơi. Đọi thấy một vị mặn lan ra từ bụng dưới, lên tới cổ họng, tới đầu lưỡi.
Tụ Hải. Nó không ngậm hạt muối nào cả. Vị mặn đã có sẵn trong miệng.
Ba ngày sau, về tới núi, Đọi kể với ông Phù mọi chuyện. Ông Phù ngồi trên phản tre trong chòi, nghe hết, không chen một câu. Khi Đọi kể tới tiếng sạn trong ngực Viễn và con số mười một, ông nhắm mắt lại.
– Ông Phù. – Đọi hỏi. – Cái tiếng trong ngực ông, cũng là tiếng đó phải không?
Ông Phù mở mắt. Ông cởi hai nút áo, kéo vạt áo sang một bên. Trên da bụng dưới của ông, chỗ cửa hải, có những vệt trắng đục chằng chịt như mạng nhện, như vết rạn trên mặt chum sành.
– Bốn mươi lăm năm trước, – ông nói, – tau uống thuốc đó.
Ngoài chòi, có tiếng chân người. Kiều Minh Viễn đứng trước cửa, tay băng, ngực băng, mặt còn xanh. Anh không nhìn ông Phù, chỉ nhìn Đọi.
– Tháng sau Hang Lục Diêm mở. – Viễn nói. – Mỗi đội ba người. Mày vào đội tao không?
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe