Chương 3: Một nén nhang giữ nước
Ngày khảo hạch, sân Đá Triều trước chính điện ngoại môn bày ba mươi cái chậu đá, xếp thành ba hàng như ba mươi cái cối giã, mỗi chậu chứa nước biển lọc trong tới lưng chừng. Thành trong mỗi chậu khắc chín vạch, mỗi vạch một con nước. Thí sinh đặt hai bàn tay lên miệng chậu, đẩy linh khí trong Hải ra, nước sẽ dâng lên theo. Dâng tới vạch thứ ba, đậu.
Đọi đứng ở hàng cuối, chậu số hai mươi tám. Nó đã ở con nước thứ hai được hơn một tháng. Con nước thứ ba, theo cách nó đo độ trong trong Hải, còn xa chừng ba tháng nữa.
Lũy đứng ở chậu số bảy, hàng đầu. Anh đã lên tới con nước thứ năm. Mặt anh hồng hào, tóc chải gọn, áo dịch đồ giặt trắng tinh. Nhưng sáng nay, đứng xếp hàng, Đọi để ý anh cứ đưa tay lên ngực, nén hơi thở, như người cố nuốt một hạt cơm bị nghẹn.
Đêm qua Lũy lại ho. Mấy đêm nay anh đều ho. Đọi đã hỏi, anh gạt đi: "Hải nóng quá thì phải xả ra chút đỉnh, ai uống thuốc cũng rứa." Đọi đem chuyện kể với ông Phù. Ông Phù nghe xong, đứng dậy đi thẳng tới dãy nhà tranh, kéo Lũy ra sau bếp nói chuyện cả canh giờ. Đọi không nghe được gì, chỉ thấy lúc Lũy quay vào, mắt anh đỏ hoe và anh không nhìn ai.
Trên thềm chính điện, ba trưởng lão ngồi trên ba chiếc ghế gụ. Ở giữa là trưởng lão Cát Trọng Phiên của Đan Đường, người phụ trách kỳ khảo hạch năm nay: tuổi chừng sáu mươi mà da mặt căng như người bốn mươi, râu cắt ngắn, tay đeo nhẫn ngọc xanh. Bên trái là trưởng lão Hà Thanh Liễu của Truyền Công Đường, một bà già nhỏ thó, tóc bạc trắng búi thấp, mặc áo vải thô như đàn bà đi chợ, cầm cái quạt nan phe phẩy. Bên phải là một trưởng lão Chấp Pháp, ngồi im như tượng.
Hồi trống thứ nhất vang lên. Ba mươi thí sinh cùng đặt tay lên chậu.
Đọi nhắm mắt. Nó không đẩy. Nó để linh khí trong Hải tự chảy ra theo hai cánh tay, chậm, như mở nút cái chạt cho nước chạt rỉ xuống hố. Nó nghe tiếng nước sóng sánh ở các chậu xung quanh, tiếng người hít thở gấp, tiếng ai đó rên lên vì gắng sức.
Khi nó mở mắt ra, nước trong chậu nó đã dâng tới vạch thứ hai và dừng ở đó, cách vạch thứ ba chừng một đốt ngón tay.
Ở các chậu khác, nước đang nhảy lên xuống như sóng gió nồm. Đứa bên trái nó, chậu hai mươi bảy, đẩy được tới vạch ba thì nước rơi tụt về vạch một, rồi lại dâng lên, lại rơi. Ở hàng đầu, chậu số bảy của Lũy, nước dâng vọt lên vạch thứ năm trong chớp mắt, cao nhất sân. Có tiếng xì xào. Trưởng lão Cát hơi gật đầu.
Đọi nhìn chậu của mình. Nước dừng ở vạch hai, không sóng một gợn. Mặt nước phẳng lì như mặt ô nề lúc trời lặng gió.
Nó biết mình không lên được vạch ba. Nó có thể cố. Nó có thể nghiến răng, ép cái cửa hải hẹp như lỗ kim mở rộng thêm một chút, đẩy nước lên một đốt ngón tay, như người ta hâm bếp than cho vò sương cạn nhanh. Nó nghĩ tới lớp bột trắng dưới đáy vò. Nó nghĩ tới tiếng ho của Lũy.
Nó không cố. Nó chỉ giữ.
Một nén nhang cắm ở lư đồng giữa sân đã cháy được một phần ba. Theo lệ khảo hạch, nhang tàn một phần ba là chấm điểm. Hai chấp sự đi dọc các hàng chậu, nhìn vạch nước, ghi vào sổ. Tới chậu số hai mươi tám, một chấp sự liếc vào, ghi một nét, rồi đi qua.
– Hai. Rớt.
Đọi vẫn không bỏ tay ra. Không ai bảo nó bỏ tay ra cả.
Hai chấp sự đi hết ba hàng, mang sổ lên thềm. Trưởng lão Cát xem sổ, gật gù. Mười bốn người đậu, trong đó chín người là dịch đồ đã uống thuốc. Lũy đứng đầu.
Thí sinh lần lượt buông tay. Nước trong các chậu sóng sánh rồi lặng dần, rơi về đáy. Trong sân, chỉ có một chậu nước vẫn đứng nguyên ở vạch thứ hai.
Bà già áo vải thô ngừng phe phẩy quạt.
– Thằng nhỏ chậu hai mươi tám, – bà nói, giọng không to nhưng rất rõ, – sao chưa buông tay?
Đọi mở mắt, giật mình.
– Dạ, con... không ai bảo con buông, thưa trưởng lão.
Vài người bật cười. Trưởng lão Cát nhíu mày.
– Rớt rồi thì buông, đứng đó làm gì. Người kế...
– Khoan đã. – Bà Liễu gập quạt, chỉ về phía lư nhang. – Ông Cát, nhang còn chừng một nửa. Cho nó đứng hết nén.
– Để làm gì? Lệ khảo hạch chỉ tính vạch nước.
– Lệ khảo hạch bây giờ thì chỉ tính vạch nước. – Bà Liễu nói, chậm rãi. – Lệ khảo hạch khắc trên bia đá ở cổng tam quan thì còn điều thứ bảy: "Kẻ giữ nước bất động trọn một nén nhang, dù chưa đủ con nước, cũng được ghi danh, vì giữ được là có gốc."
– Điều ấy hai mươi năm nay không dùng nữa.
– Không dùng, nhưng chưa ai đục bỏ. – Bà nói. – Ông muốn đục thì cứ việc. Hôm nay thì nó vẫn ở trên bia.
Trưởng lão Chấp Pháp bên phải lần đầu tiên mở miệng:
– Bia còn, lệ còn.
Trưởng lão Cát không nói gì nữa. Ông ngồi tựa ra sau, ngón tay mân mê chiếc nhẫn ngọc xanh, nhìn Đọi bằng cái nhìn của người đếm hàng trong kho thấy dư ra một bao không có trong sổ.
Thế là cả sân, ba mươi thí sinh, mười mấy chấp sự, ba trưởng lão, đứng nhìn một thằng nhỏ mười lăm tuổi, da đen nhẻm, đặt hai tay lên một cái chậu đá mà nước chỉ lên tới vạch thứ hai.
Nửa nén nhang còn lại dài như cả một mùa muối.
Đọi không nghĩ gì về chuyện người ta đang nhìn. Nó nghĩ tới những buổi trưa ở Cồn Muối, khi nắng đứng bóng, mạ bảo nó canh ô nề, không được đi đâu, không được đụng vào nước, chỉ được ngồi trên bờ nhìn, vì một ngọn gió hay một cái bóng người đi ngang cũng làm nước gợn, mà nước gợn thì muối kết lệch. Nó đã ngồi như thế cả trăm buổi trưa. Nó biết cách ngồi yên.
Được chừng nửa nén, hai cánh tay nó bắt đầu run. Linh khí trong Hải nó không nhiều, giữ được nước đứng là phải chảy ra đều từng chút, không được nhiều hơn, không được ít hơn. Mồ hôi chảy xuống mắt. Nó không chớp. Nó nhìn mặt nước.
Rồi một chuyện mà chính nó cũng không ngờ xảy ra. Mặt nước trong chậu, vốn là nước biển lọc hơi đục, bắt đầu trong dần. Không phải trong vì cặn lắng xuống. Trong như có ai rút hết những thứ lợn cợn ra, từ mặt xuống đáy, cho tới khi nhìn xuyên được thấy rõ chín vạch khắc ở thành bên kia chậu, thấy cả mấy hạt cát nhỏ dưới đáy.
Bà Liễu đứng dậy khỏi ghế.
Nhang tàn. Đọi buông tay. Nước rơi về đáy, không bắn một giọt. Nó ngồi bệt xuống nền đá, hai tay rũ như hai sợi dây.
Bà Liễu bước xuống thềm, đi tới, cúi nhìn vào chậu nước. Bà đưa một ngón tay nhúng vào, đưa lên miệng nếm. Rồi bà nhìn Đọi.
– Mi là đứa ông Phù đem lên?
– Dạ.
– Lão ấy dạy mi giữ nước?
– Dạ không. Mạ con dạy, thưa trưởng lão. Ở nhà con làm muối.
Bà Liễu không cười. Bà quay về phía thềm.
– Ghi danh nó. Ngoại môn.
Chấp sự ghi. Nhưng trước khi Đọi kịp mừng, bà Liễu cúi xuống nói nhỏ với nó, đủ để chỉ nó nghe:
– Ghi danh theo điều thứ bảy thì không có lương. Không có chỗ ở trong dãy ngoại môn. Không có điểm cống hiến tháng đầu. Mi không còn là dịch đồ, nên tông môn cũng thôi gửi nửa lượng bạc về nhà mi. Mi có thể từ chối, ở lại làm dịch đồ, sang năm thi lại theo lệ thường. Nghĩ đi. Tới chiều trả lời Chấp Pháp Đường.
Nửa lượng bạc. Đọi tính trong đầu, tính như mạ tính tiền thuê ô nề. Mùa muối năm nay, mạ thuê người gánh chạt, hai mươi đồng một ngày. Nửa lượng bạc là năm mươi đồng. Mỗi tháng, cái nửa lượng ấy trả được hơn hai ngày công, đủ cho cái lưng mạ đỡ còng mấy buổi sáng.
Nó định nói gì đó thì có tiếng người la thất thanh ở hàng đầu.
Lũy đang khom người bên chậu số bảy. Anh đã buông tay từ lâu, nhưng nước trong chậu anh không rơi về đáy. Nó đang sôi. Không có lửa, không có than, nước trong chậu số bảy sủi bọt lăn tăn, rồi đục dần, trắng như nước vo gạo. Lũy ho một tiếng, rồi hai tiếng, rồi không dừng được nữa. Anh quỳ xuống, bụm miệng, và qua kẽ tay anh, bụi trắng rơi lả tả xuống nền đá, lấp lánh xanh nhạt dưới nắng.
Tiếng sạn nghiến vang lên rõ ràng, giữa sân lặng ngắt, từ trong ngực một người.
Đọi đứng bật dậy. Nó chưa kịp chạy tới thì bốn người áo nâu của Đan Đường đã đứng đó, không biết từ lúc nào, như thể họ chờ sẵn. Hai người nhấc Lũy lên cáng tre. Một người lấy khăn trùm lên mặt anh. Người thứ tư đổ nước trong chậu số bảy đi và chùi sạch nền đá. Tất cả mất chưa tới mười hơi thở.
Họ khiêng Lũy đi về phía Đan Đường. Đi ngang qua Đọi, cánh tay Lũy buông thõng ra ngoài cáng, lòng bàn tay mở. Trong lòng bàn tay vẫn còn dính một vệt bụi trắng.
Trưởng lão Cát đứng dậy.
– Đệ tử Lũy kéo triều quá sức, hao tổn kinh mạch. Đan Đường sẽ chữa. – Ông nói đều đều. – Danh sách đậu không đổi. Tan.
Đọi nhìn quanh. Không ai hỏi gì. Mấy dịch đồ đã uống thuốc đứng nép vào nhau, có đứa đưa tay lên sờ ngực mình. Ở cuối sân, bên cạnh cái rương thuốc của Đan Đường, Mây đứng im, hai tay nắm chặt quai rương, mặt tái như vôi. Khi thấy Đọi nhìn, nó quay đi.
Chiều hôm ấy, Đọi đi lên Chấp Pháp Đường. Nó đi qua cổng tam quan, dừng lại trước tấm bia đá rêu phong. Nó dò tìm, và thấy điều thứ bảy ở dòng gần cuối, chữ mòn gần hết, có một đường vạch ngang mờ mờ, như ai đó từng cầm đục định gạch đi rồi đổi ý.
Nó đứng đó rất lâu, ngậm một hạt muối của mạ. Rồi nó đi vào, nói với chấp sự rằng nó nhận ghi danh.
Tối đó nó viết thư về nhà. Nó viết chậm, vì chữ nó còn xấu. Nó viết rằng con đã thành đệ tử ngoại môn, rằng tháng tới tông môn không gửi bạc về nữa, rằng mạ đừng thuê người gánh chạt buổi sáng, để con gửi tiền khi có. Viết tới đó thì nó ngừng, không biết viết gì tiếp. Ngoài kia, Đan Đường vẫn sáng đèn, khói vẫn lên đều từ mấy chục ống khói nhỏ.
Ba ngày sau, có người báo: Lũy đã được đưa xuống núi, về quê. Không ai biết anh còn tu được hay không. Không ai nhắc tới anh nữa.
— Hết chương 3 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe