Chương 7: Sáu tháng trước đại hội
Kiều Minh Viễn lần đầu tiên cầm cái gáo sành hứng sương đã làm đổ trọn nửa gáo xuống chân.
– Cầm cho thẳng. – Ông Phù nói từ bờ ruộng, giọng không to, không nhỏ, y như ba năm trước ông nói với Đọi. – Sương rớt ra ngoài một giọt là mất một giọt.
Viễn nghiến răng, cúi xuống vuốt lá cỏ hứng khác. Cậu ấm nhà buôn tơ cảng Hội Thành, ba năm trước còn nôn ọe trên boong thuyền mà không chịu uống thuốc chống say sóng, giờ đứng chân trần trên bậc ruộng sương lúc canh tư, quần xắn tới gối, ngực vẫn còn quấn băng.
Anh tới chòi tranh vào buổi chiều thứ ba sau ngày trưởng lão Cát công bố phát thuốc. Anh đứng ở cửa, tay cầm một lá thư, mặt trắng bệch.
– Cha tao. – Anh đưa lá thư cho Đọi. – Mày đọc đi.
Thư ngắn. Ông Kiều ở cảng Hội Thành viết rằng ông đã đóng cho tông môn bốn trăm lượng bạc từ ngày con trai lên núi, rằng ông nghe tin con rơi cảnh giới, rằng tông môn đang phát thuốc, rằng nếu con không ghi danh thì từ nay ông không gửi bạc lên nữa, và con cũng đừng mang mặt về nhà.
– Tao không ghi danh. – Viễn nói. – Tao đã đứng ở cái hang đó. Tao nghe tiếng trong ngực tao. Tao không uống nữa.
Anh quay sang ông Phù.
– Ông dạy thằng Đọi đi chậm. Ông dạy tôi được không?
Ông Phù nhìn anh rất lâu, rồi chỉ vào cái gáo sành treo trên vách.
– Canh tư. Bậc thứ chín.
Thế là từ đó, mỗi sáng có hai người hứng sương trên ruộng sườn đông. Đám ngoại môn đi ngang thấy Kiều Minh Viễn lom khom vuốt cỏ, đứa thì cười, đứa thì lắc đầu. Viễn không để ý. Anh học cách ngồi kéo triều không đếm con nước, học cách nhìn vào Hải mình như nhìn mặt nước trong vò, học cách chịu đựng cái chậm. Cái khó nhất với anh là chịu đựng cái chậm. Có những đêm Đọi thức dậy, thấy Viễn ngồi ngoài sân, hai nắm tay siết chặt trên đầu gối, run run, như người đang cố không với tay lấy một thứ gì.
– Anh nhớ thuốc à?
– Tao nhớ cái cảm giác. – Viễn nói. – Uống vào là thấy Hải nóng lên, linh khí ào ào chảy vào, một đêm bằng cả tháng. Giờ ngồi một đêm mà thấy như ngồi giữa cánh đồng chờ lúa chín.
– Ở làng tui người ta chờ muối kết cả ngày. Có mùa mưa trái mùa, chờ cả tuần.
– Mày nói câu đó lần thứ một trăm rồi đó.
– Thì nó đúng lần thứ một trăm.
Viễn cười, lần đầu tiên từ hôm ra khỏi hang.
Tháng thứ hai, Mây tới chòi vào một buổi tối mưa, tay ôm một bọc vải. Nó không vào, đứng nép dưới mái hiên, nói với Đọi:
– Trưởng lão Liễu muốn gặp cậu. Đêm nay. Ở Tàng Thư Các.
Tàng Thư Các nằm ở lưng chừng núi, một ngôi lầu gỗ hai tầng lợp ngói âm dương, chung quanh trồng toàn tre. Bà Hà Thanh Liễu ngồi ở tầng trên, bên một cái bàn thấp, trước mặt là ba cái thẻ bài đồng xanh rỉ mà Mây đã mang ra từ Hang Lục Diêm. Bà vẫn mặc áo vải thô, vẫn cầm cái quạt nan.
– Ngồi đi. – Bà nói. – Con Mây đem cái này tới ta hôm kia. Nó hỏi ta có biết không.
Đọi ngồi xuống. Mây đứng cạnh cửa sổ.
– Ta biết. – Bà Liễu nói, không chờ ai hỏi. – Ta biết từ bốn mươi năm trước, từ hồi Phù còn chưa bị đuổi xuống ruộng sương. Ta đứng trong đại điện ngày Phù quỳ xin đốt phương thuốc. Ta không nói gì. Ta là trưởng lão trẻ nhất, mà tông môn thì sắp mất núi.
Bà gõ quạt lên mặt bàn, khẽ.
– Mi muốn hỏi sao bây giờ ta không nói. Đây. – Bà chỉ vào ba cái thẻ bài. – Ba cái thẻ bài trong hang. Một cái sổ cũ trong rương Đan Đường. Cát sẽ nói ba đứa này chết vì yêu thú. Sẽ nói cái sổ là sổ thử thuốc của Phù, thuốc cũ, đã sửa từ lâu. Sẽ nói thằng Viễn rơi cảnh giới vì nó tự đi xuống quá sâu. Ông ấy nói câu nào cũng có nửa phần đúng. Mấy chục đứa đang xếp hàng nhận thuốc. Cha mẹ cả mấy trăm đệ tử đã đóng bạc cho Đan Đường mấy chục năm nay. Không ai muốn tin.
– Rứa thì làm răng ạ?
– Thứ duy nhất làm người ta tin là tận mắt thấy. – Bà Liễu nói. – Năm nay Hắc Nham Tông đổi chưởng môn. Người mới là một bà luyện thể, tên Mạc Thạch Cơ. Mười năm trước, ở đại hội trước, bà ấy là người đánh với ba đệ tử Lam Hải. Ba người đó, hai năm sau đều nứt. Bà ấy là người biết rõ nhất trên đời này tinh của Lam Hải được làm bằng gì. Và môn công của Hắc Nham là Trấn Nham Áp.
– Áp. – Đọi nói. – Như trong hang.
– Như trong hang. Có khi nặng hơn. – Bà Liễu gật đầu. – Ta đã nói với Cát. Cát nói bà Mạc chỉ đánh được từng người, mà thuốc đã có Hàn Diệp, chịu được. Ông ấy tin thế. Hoặc ông ấy cần tin thế.
Bà rót một chén trà, đẩy về phía Đọi.
– Ta không cản được đại hội. Ta không cản được mấy chục đứa nhỏ uống thuốc. Nhưng ta là người ký danh sách đoàn đi đảo Bàn Thạch. Ta sẽ ghi mi và thằng Viễn vào hàng Tụ Hải. Mi biết luật thay người chứ?
– Dạ không.
– Ai ghi danh hàng Tụ Hải, nếu Kết Tinh trước trận cuối của hàng Kết Tinh, được đánh thế chỗ cho bất kỳ người nào cùng tông đã thua hay không đánh được. Luật này có từ thời Liên Minh mới lập, để khỏi phạt những đứa đột phá đúng lúc.
– Con không Kết Tinh được trong sáu tháng.
– Ta biết. – Bà Liễu nói. – Ta không ghi mi vào vì mi sẽ Kết Tinh. Ta ghi mi vào vì đến lúc cả cái sân ấy nứt ra, phải có một người đứng đó mà không nứt.
Đọi nhìn sang Mây. Mây vẫn đứng cạnh cửa sổ, nhìn mưa.
– Còn chị Mây?
– Ta hỏi nó rồi. – Bà Liễu nói. – Ta hỏi nó có chịu đứng ra trước tông chủ nói về cái sổ không.
Mây quay lại.
– Tôi đứng ra thì tôi mất việc. – Nó nói, giọng bằng phẳng. – Tôi mất việc thì mẹ tôi mất lọ thuốc phổi mỗi tháng. Ở bản không ai làm được thuốc đó. Tôi đã nói với trưởng lão. Tôi chưa trả lời được.
Không ai nói gì nữa. Chỉ có tiếng mưa trên lá tre, rả rích như tiếng tằm ăn.
Tháng thứ tư, thư nhà tới.
Thư do thằng Tí viết, chữ to như hạt bắp, nghiêng ngả, nhiều chỗ bôi xóa. Tí mười tuổi rồi. Nó viết rằng cuối tháng Bảy có bão lớn, nước biển dâng qua đê cát, tràn vào ruộng muối Cồn Muối. Ô nề bị bùn lấp hết, chạt lọc bị cuốn trôi, lều muối sập. Mạ không sao, chỉ bị trặc chân lúc chạy bão. Năm nay không có muối bán. Làng đang đắp lại đê. Cuối thư, chữ khác hẳn, nét run run, là chữ của mạ, bà nhờ ai cầm tay chỉ viết:
"Mi đừng về. Ruộng thì đắp lại được. Mi đừng nóng ruột."
Đọi đọc lá thư ba lần, ngồi trên bậc ruộng sương. Rồi nó đứng dậy, đi vào chòi, lấy cái túi vải đựng tiền dành dụm dưới gối, đếm. Ba lượng hai tiền, ba năm hứng sương. Nó gói lại, đi xuống bến, gửi theo thuyền chở hàng vào đất liền.
Nó không về. Nó biết nếu nó về, nó sẽ ở lại. Đắp đê, đào lại ô nề, gánh chạt, như mọi đứa con trai lớn trong làng. Và nó sẽ không bao giờ quay lại núi nữa. Mạ cũng biết điều đó. Bởi thế mạ mới viết "đừng về" bằng chính tay mình.
Đó là cái giá thứ ba. Mỗi đêm của tháng thứ năm, Đọi ngồi kéo triều và nghĩ tới mạ một mình trên ruộng bùn, chân đau, cầm cái cuốc.
Cuối tháng thứ năm, Hải của nó đầy.
Không phải đầy như con nước thứ chín. Đầy như nồi nước chạt nấu tới lúc cuối, đặc quánh, mặn gắt, mặn tới mức không hòa thêm được một chút muối nào nữa. Đọi ngồi trong chòi, nhắm mắt nhìn vào Hải mình, và nó thấy nước trong đó đang run. Run rất khẽ, như mặt nước trong vò khi có người đi ngang qua.
Nó gọi ông Phù. Ông Phù đặt tay lên bụng nó, rất lâu.
– Quá mặn. – Ông nói. – Đầy tới mức đáng lẽ phải kết rồi, mà không có mồi nên nó không kết được. Nó đang chờ.
– Chờ cái chi ạ?
– Chờ một cú gõ. – Ông Phù rút tay về. – Mi nhớ hồi ở làng, có lần nồi nước chạt nấu quá mặn, ai đó gõ đũa vào thành nồi, cả nồi đông lại một lúc thành bột không?
Đọi nhớ. Lần ấy mạ đánh nó, vì nó là đứa gõ đũa.
– Hải mi bây giờ là cái nồi đó. – Ông Phù nói. – Có mồi, nó kết một hạt cái. Không có mồi mà bị gõ mạnh, một cú áp, một nhát đánh, nó đông lại cùng một lúc, ra bột. Tinh bột, như người uống thuốc. Không cần thuốc.
Đọi ngồi im. Bên ngoài, Viễn đang tập khẩu quyết dưới gốc phi lao. Sau ba tháng đi chậm, Hải của Viễn đã lặng lại, những chỗ rạn trong kinh mạch đã liền, nhưng anh vẫn còn ở Tụ Hải và sẽ còn ở đó lâu.
– Tức là con không được đi đại hội.
– Tức là ở đại hội mi có thể bị gõ. – Ông Phù nói. – Trấn Nham Áp là một cú gõ to nhất mà mi có thể gặp.
– Rứa thì con không đi.
Ông Phù không trả lời. Ông đứng lên, đi ra cửa chòi, đứng nhìn ra biển. Gió đã chuyển sang gió bấc đầu mùa, lạnh, thổi bay vạt áo lam bạc màu của ông. Ông ho, tiếng sạn nghe khô và nhiều hơn mấy tháng trước.
– Tau đã xin trưởng lão Liễu cho tau đi theo đoàn. – Ông nói. – Làm người khiêng nước.
– Ông đi làm chi? Chân ông rứa...
– Mi cứ đi. – Ông Phù nói. Ông quay lại nhìn nó, và lần đầu tiên trong ba năm, Đọi thấy ông cười, một cái cười méo mó, thiếu hai cái răng cửa. – Đến đó mi sẽ biết.
Đêm trước ngày lên thuyền đi đảo Bàn Thạch, Mây tới chòi. Nó đứng ngoài hiên như lần trước, không vào.
– Tôi xin theo đoàn, làm người mang thuốc. – Nó nói. – Trưởng lão Liễu cho rồi.
– Chị trả lời trưởng lão rồi à?
Mây không đáp. Nó nhét vào tay Đọi một gói giấy nhỏ, rồi đi. Đọi mở ra. Bên trong là một nhúm bột màu xanh rêu, mùi đắng nghét, và một mẩu giấy viết bằng nét chữ nhỏ, nắn nót: "Hàn Diệp nguyên chất. Không phải để uống. Phòng khi Hải ai đó sôi lên. Đắp ngoài da, chỗ cửa hải. Tôi thử trên chuột rồi."
Đọi gói lại, cất vào túi áo, cạnh cái ống lồ ô. Trong ống chỉ còn bảy hạt muối.
— Hết chương 7 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe