AI Truyện
Muối phơi chậm ở Lam Hải Tông

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Ruộng sương núi Vọng Triều

Muối phơi chậm ở Lam Hải Tông · Chương 2/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Ruộng sương núi Vọng Triều

– Mi cầm cái gáo cho thẳng. Sương rớt ra ngoài một giọt là mất một giọt.

Canh tư, trời còn tối mịt, Đọi đứng trên bậc ruộng thứ chín của sườn đông núi Vọng Triều, hai tay cầm cái gáo sành, chân trần bám lên mặt đá rêu trơn như mỡ. Trước mặt nó là những luống "cỏ hứng", thứ cỏ lá dài như lá sả, mép lá cong lên thành rãnh. Rạng sáng, khi linh triều dâng lên từ biển, hơi nước quyện linh khí đọng trên lá thành những giọt sương màu xanh nhạt, sáng như mắt mèo. Dịch đồ phải vuốt từng lá, cho sương chảy vào gáo, trước khi mặt trời lên làm sương bay mất.

Mỗi sáng, ruộng sương sườn đông cho chừng hai vò linh sương. Đan Đường lấy về làm nước luyện đan.

Ông Phù đi dọc bờ ruộng, cây gậy tre gõ lốc cốc lên đá. Ông không bao giờ nói to, nhưng chưa có giọt sương rơi nào thoát khỏi mắt ông, kể cả con mắt đục.

Đã ba tháng Đọi ở trên núi.

Ba tháng, nó học được ba thứ. Thứ nhất, Lam Hải Tông chia người làm bốn hạng: nội môn ở lưng chừng núi trở lên, ngoại môn ở các dãy nhà ngói dưới chân thác, dịch đồ ở mấy dãy nhà tranh sau bếp, và cuối cùng là những người như ông Phù, không ai biết xếp vào đâu.

Thứ hai, người tu tiên ở đây không nói "tu luyện" mà nói "kéo triều". Linh khí trong trời đất lên xuống như con nước, mạnh nhất lúc rạng sáng, mạnh nhất ở gần biển. Ai có linh căn thì có một cái cửa trong bụng dưới, gọi là cửa hải. Ngồi đúng khẩu quyết, thở đúng nhịp, linh khí sẽ chảy qua cửa ấy vào một chỗ gọi là Hải. Kéo được một lượng nhất định, gọi là lên một con nước. Chín con nước là hết cảnh giới đầu tiên, gọi là Dẫn Triều.

Thứ ba, cửa hải của nó hẹp thật.

Ba tháng, mỗi đêm nó ngồi kéo triều hai canh, từ giờ Tý tới giờ Dần, rồi đi hứng sương. Ba tháng, nó mới lên được con nước thứ nhất. Thằng Viễn, con nhà buôn tơ, lên con nước thứ nhất vào ngày thứ tư trên núi. Tới tháng thứ ba thì nó đã ở con nước thứ năm, và người ta đã chuyển nó từ hàng tân đệ tử sang ngoại môn chính thức.

Tháng trước, Viễn đi ngang ruộng sương, đứng trên bờ nhìn Đọi vuốt lá.

– Ê, dân muối. Con nước mấy rồi?

– Một.

– Một. – Viễn lặp lại, như người ta đọc to một con số trong sổ nợ. – Mày biết tao kéo một đêm bằng mày kéo bao lâu không?

– Không.

– Hai tháng. Tao tính rồi. Mày ở đây tới già cũng không lên nổi Tụ Hải.

Rồi nó đi. Đọi tiếp tục vuốt lá. Nó không giận lắm. Thằng Viễn nói đúng, theo cái cách một con số đúng.

Sáng nay, hứng sương xong, Đọi khiêng hai vò sương xuống Đan Đường. Đan Đường là một dãy nhà đá ba gian dựa lưng vào vách núi, mái lợp ngói đen, quanh năm khói bay ra từ mấy chục cái ống khói nhỏ. Mùi ở đó là mùi của thứ gì đó vừa ngọt vừa khét, như đường thắng quá lửa.

Ở gian ngoài, một đứa con gái đang ngồi giã thuốc trong cái cối đá. Nó gầy, da ngăm, tóc tết một bím dài quấn quanh đầu, đeo vòng bạc ở cổ tay. Nó giã đều tay, không ngẩng lên.

– Để vò ở góc. Vò bên trái là vò nào?

– Vò hứng bậc một tới bậc năm. Vò phải bậc sáu tới chín.

– Bậc trên sương đậm hơn. Lần sau dán giấy đánh dấu. Lần trước có đứa để lộn, cả lò thuốc hỏng, tôi bị trừ ba ngày cơm.

Đó là Bế Thị Mây, dịch đồ của Đan Đường, người ở bản Nà Lừa tận vùng núi phía bắc, lên đây năm mười ba tuổi, sớm hơn Đọi hai năm. Nó nói tiếng Kinh lơ lớ, câu nào cũng ngắn, như tiếc chữ. Đọi đã giao sương cho nó ba tháng, chưa thấy nó cười lần nào.

Đọi đặt vò xuống, rồi đứng lại.

– Chị Mây, chị lên núi hai năm, chị con nước mấy rồi?

Mây ngừng chày.

– Không có con nước nào. Tôi không có linh căn.

– Rứa răng chị lên đây?

– Mẹ tôi ho ra máu. Thuốc ở bản không chữa được. Ở đây tôi làm, mỗi tháng được gửi về một lọ thuốc phổi và nửa lượng bạc. – Mây cúi xuống, giã tiếp. – Cậu hỏi nhiều quá.

Đọi gãi đầu. Nó định đi thì nhìn thấy, trên cái mâm gỗ bên cạnh cối, mấy chục viên thuốc tròn màu đỏ thẫm, bóng như hột điều, đang được hong cho khô. Giống hệt ba viên trong hộp sơn mài của gã người hầu nhà họ Kiều.

– Thuốc chi đây chị?

– Thúc Tinh Đan.

– Uống vô thì răng?

Mây không trả lời ngay. Nó liếc ra cửa, rồi nói khẽ, nhanh, như ném một hòn sỏi qua hàng rào:

– Uống vào, Hải nóng lên, kéo triều nhanh gấp ba, kết tinh trong vài ngày thay vì vài năm. Trưởng lão Cát nói vậy. Đệ tử ngoại môn đổi điểm cống hiến lấy. Dịch đồ cũng đổi được, ba tháng lương một viên.

– Ba tháng lương. – Đọi nhẩm. Một lượng rưỡi bạc. – Rứa răng không ai cũng uống?

– Nhiều người uống. – Mây nói. – Cậu đi đi. Trưởng lão sắp xuống.

Chiều hôm đó, ông Phù cho Đọi nghỉ, bắt nó ngồi bên bờ ruộng sương, nhìn mấy cái vò sứ nhỏ ông bày trên mặt đá. Có năm vò. Ông đổ vào mỗi vò một lượng sương bằng nhau.

– Vò ni tau để trong bóng. Vò ni ngoài nắng. Vò ni tau hâm trên bếp than. Hai vò kia tau bỏ vào mỗi vò một hạt muối của mi.

– Ông lấy muối của con hồi mô?

– Hồi mi ngủ gật. – Ông Phù nói, mặt tỉnh queo. – Ba ngày nữa mi ra coi.

Ba ngày sau, Đọi ra coi. Vò hâm trên bếp than cạn khô, đáy vò phủ một lớp bột trắng mịn như bột gạo, sờ vào là vỡ. Vò ngoài nắng có những hạt li ti, đục, dính chùm vào nhau. Vò trong bóng còn non nửa nước, đáy có mấy hạt trong vắt, to bằng hạt tấm. Còn hai vò có hạt muối mồi, một trong bóng, một ngoài nắng, quanh hạt muối đã mọc lên những tinh thể xanh nhạt, vuông vức, bám vào nhau thành một khối nhỏ cỡ đầu ngón tay, trong như giọt nước đông lại.

Đọi nhìn rất lâu. Nó nhận ra cái nó đang thấy. Nó đã thấy cái đó cả đời, ở góc ô nề thứ bảy sát bờ đầm.

– Sương ni là linh khí. – Ông Phù nói. – Linh khí trong Hải mi cũng rứa. Tới Tụ Hải, nó đặc lại. Tới Kết Tinh, nó đông thành hạt. Hâm vội thì ra bột. Có mồi, để chậm, thì ra hạt cái.

– Thuốc đỏ là cái bếp than?

Ông Phù không đáp. Ông lấy gậy gõ vào cái vò hâm trên bếp than. Lớp bột trắng dưới đáy sụp xuống, rã ra, kêu lạo xạo rất khẽ.

– Mi đừng đếm con nước. – Ông nói. – Đứa nào cũng đếm con nước. Mi đếm cái khác.

– Đếm cái chi ạ?

– Mi tự nghĩ.

Đêm đó, ngồi kéo triều trên phiến đá sau nhà tranh, Đọi không đếm con nước nữa. Nó nhắm mắt, để linh khí chảy qua cái cửa hẹp như lỗ kim, chảy chậm như nước chạt rỉ qua lớp cát lọc. Nó không ép. Nó chỉ nhìn. Lần đầu tiên, nó thấy được Hải của mình: một khoảng tối, lặng, và ở đáy, mỏng như sương đọng, một lớp ánh xanh. Nước trong Hải của nó không chảy xiết như người ta kể. Nó lặng, như nước trong ô nề trước khi kết.

Nó nghĩ: đếm độ trong.

Chuyện xảy ra vào tháng thứ năm.

Trong dãy nhà tranh dịch đồ có một người tên là Lũy, mười chín tuổi, quê ở cửa biển phía bắc. Lũy là người ông Phù đưa lên núi trước Đọi, lên được bốn năm. Ba năm đầu, Lũy kẹt ở con nước thứ hai, khẩu quyết thuộc làu nhưng cửa hải nhỏ chỉ hơn Đọi một chút. Lũy hiền, hay chia cho Đọi củ khoai nướng, hay hát mấy câu hò kéo lưới ở quê. Luật cho dịch đồ thi khảo hạch bốn lần, mỗi năm một lần. Lũy rớt ba lần rồi. Còn bảy tháng nữa là tới lần thứ tư, nếu vẫn không lên được con nước thứ ba, Lũy sẽ làm dịch đồ tới hết hạn mười năm, không bao giờ được học thêm một câu khẩu quyết nào.

Một đêm, Lũy về nhà tranh muộn. Đọi tỉnh ngủ, thấy anh ngồi ở mép phản, tay nắm chặt một cái gì đó.

– Anh Lũy?

– Ngủ đi.

– Anh cầm chi rứa?

Lũy mở tay ra. Trong lòng bàn tay anh, dưới ánh trăng lọt qua mái tranh, là một viên thuốc đỏ thẫm.

– Ba tháng lương. – Lũy nói, cười méo. – Tao để dành từ Tết. Tháng ni không gửi về nhà được. Mạ tao chắc chửi.

– Anh Lũy, ông Phù nói...

– Ông Phù nói gì tao biết. Ông nói bốn năm rồi. Mà ông còn chưa lên nổi Kết Tinh nữa là. – Lũy bỏ viên thuốc vào miệng, nhai, nuốt, uống một ngụm nước trong cái ống tre. – Tao không có ba mươi năm như mày, Đọi. Tao có bảy tháng.

Mười ngày sau, Lũy lên con nước thứ ba. Hai mươi ngày sau, con nước thứ tư. Anh đi đâu cũng cười, da hồng hào, ăn ba bát cơm. Đám dịch đồ vây quanh anh hỏi chuyện. Có hai đứa bắt đầu để dành tiền.

Ông Phù không nói gì cả. Chỉ có một buổi chiều, Đọi thấy ông đứng ở đầu dãy nhà tranh, nhìn Lũy đang tập khẩu quyết ngoài sân, nhìn rất lâu, rồi quay đi, cây gậy gõ xuống đất nặng hơn mọi khi.

Một tháng sau, khi Lũy đã lên con nước thứ năm, Đọi thức dậy lúc canh ba vì một âm thanh lạ.

Nó nằm im nghe. Âm thanh đến từ phản bên cạnh, nơi Lũy ngủ. Không phải tiếng ngáy. Là tiếng ho, nhỏ, nén lại, như người cố không đánh thức ai. Và lẫn trong tiếng ho, khô khốc, đều đặn, là thứ âm thanh Đọi đã nghe một lần trên đuôi thuyền, trong ngực ông Phù: tiếng sạn nghiến vào nhau.

Đọi ngồi dậy, châm đèn.

Lũy ngồi co ro, hai tay bụm miệng. Khi anh bỏ tay ra, trong lòng bàn tay không có máu. Chỉ có một nhúm bụi trắng, mịn như bột gạo, lấp lánh xanh nhạt dưới ánh đèn dầu.

— Hết chương 2 —

Mục lục Muối phơi chậm ở Lam Hải Tông

  1. 1Vệt muối trên đá thử8 phút
  2. 2Ruộng sương núi Vọng Triều10 phút đọc
  3. 3Một nén nhang giữ nước10 phút đọc
  4. 4Đàn cua đá mùa nước kém10 phút đọc
  5. 5Hang Lục Diêm10 phút đọc
  6. 6Người làm ra viên thuốc đỏ10 phút đọc
  7. 7Sáu tháng trước đại hội10 phút đọc
  8. 8Tứ Hải Đại Hội10 phút đọc
  9. 9Hạt cái10 phút đọc
  10. 10Muối phơi đủ nắng10 phút đọc

Về truyện này

Muối phơi chậm ở Lam Hải Tông là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →