Chương 10: Muối phơi đủ nắng
Họ chôn ông Phù ở bậc ruộng sương thứ chín, chỗ cao nhất sườn đông núi Vọng Triều, quay mặt ra biển.
Tông môn đề nghị đặt ông vào lăng trưởng lão sau chính điện, với bia đá và lễ tế như mọi người từng Kết Tinh. Bà Liễu thay mặt Đọi từ chối. Ông Phù đã ở ruộng sương bốn mươi năm. Đọi đào huyệt bằng cái cuốc ông vẫn dùng để khơi rãnh nước, Viễn đẽo cây cọc gỗ làm mộ chí, Mây khắc tên ông lên đó bằng mũi dao nhỏ, chữ nhỏ và nắn nót như chữ trên mẩu giấy gói Hàn Diệp.
Không ai biết ông bao nhiêu tuổi. Mây khắc: "Tạ Văn Phù. Người coi ruộng sương." Rồi nó nghĩ một lúc, khắc thêm ở dòng dưới: "Người làm thuốc."
– Chị khắc rứa, người ta đọc sẽ nghĩ là thuốc chi? – Đọi hỏi.
– Người biết thì biết. – Mây nói. – Ông ấy cũng sẽ muốn người ta biết.
Đọi mở ống lồ ô, đổ ra năm hạt muối, đặt lên nấm mộ còn ướt đất, thành một hàng. Một hạt cho ngày rời Cồn Muối, một hạt cho chậu đá ngày khảo hạch, một hạt cho đêm trên bãi cửa Nhượng, một hạt cho Hang Lục Diêm, một hạt cho cái lều vải trên đảo Bàn Thạch. Sương sáng hôm sau sẽ làm chúng tan vào đất. Trong ống còn lại một hạt cuối cùng.
Mười ngày sau, đại điện Lam Hải Tông mở cửa họp.
Tông chủ, một ông già ngoài trăm tuổi nằm liệt mười năm nay, được khiêng ra trên chiếc sập gỗ, đặt giữa điện. Ông nghe được nhưng không nói được nhiều. Ngồi hai bên là các trưởng lão. Ở dưới, chật kín, là đệ tử nội môn, ngoại môn, cả dịch đồ đứng ngoài hiên. Người ta đứng tận ra sân.
Trên bàn trước mặt tông chủ có ba thứ. Một lá thư gắn xi đen của Hắc Nham Tông. Ba cái thẻ bài đồng xanh rỉ. Và một cuốn sổ bìa da đã mốc, gáy sờn, mở ở trang giữa.
Bế Thị Mây đứng trước bàn. Nó vẫn mặc áo dịch đồ, tóc tết quấn quanh đầu, vòng bạc ở cổ tay. Nó đứng thẳng, không nhìn ai, nói bằng cái giọng tiếng Kinh lơ lớ, câu nào cũng ngắn:
– Đây là sổ phát thuốc đầu tiên của Đan Đường. Tôi lau bụi rương này mỗi tháng, năm năm nay. Trang này, ngày tháng bốn mươi bốn năm trước. Ba người, mỗi người năm viên. Ghi chú: "Thử." Ba cái thẻ bài này tôi nhặt cạnh ba bộ xương ở tầng thứ ba Hang Lục Diêm. Tên trên thẻ bài khớp tên trong sổ.
Nó lật sang những trang sau. Lật rất chậm, cho ai đứng gần cũng thấy.
– Từ trang này về sau là sổ của trưởng lão Cát. Bốn mươi năm. Tôi đếm rồi. Hai trăm mười một người nhận thuốc. Tôi đã so tên với sổ Chấp Pháp Đường, sổ ai xuống núi vì "hao tổn kinh mạch". Một trăm sáu mươi tư người trùng tên.
Có tiếng ai đó bật khóc ở cuối điện.
– Ai cho mày lục sổ Chấp Pháp? – Một chấp sự Đan Đường quát.
– Ta cho. – Bà Liễu nói, không đứng dậy. – Ta mở rương đưa sổ cho nó. Ngươi có ý kiến gì thì nói với ta.
Mây nói hết. Nó nói về Hàn Diệp được thêm vào để vết nứt lâu hiện ra. Nó nói về Lũy, về cô Thu, về Lạc Thanh Bình. Nó nói về những con chuột nó thử bột Hàn Diệp trong ba tháng. Nó không nói gì về mẹ nó, về lọ thuốc phổi. Khi nói xong, nó cúi đầu chào tông chủ, rồi lùi về đứng cạnh Đọi.
– Chị nói hết rồi. – Đọi nói khẽ. – Còn lọ thuốc của mạ chị...
– Mất thì mất. – Mây nói, mắt nhìn thẳng. – Tôi về bản, tôi tự trồng thuốc. Mẹ tôi sống được sáu năm nhờ lọ thuốc đó. Sáu năm là đủ để tôi học cách làm nó.
Trưởng lão Cát đứng lên.
Ông không chối. Đọi đã nghĩ ông sẽ chối, sẽ nói như bà Liễu đoán: ba người chết vì yêu thú, sổ là sổ cũ. Ông không nói thế. Ông đứng giữa điện, dáng vẫn thẳng, da mặt vẫn căng bóng, và nói:
– Bốn mươi năm trước, nếu không có thuốc, Lam Hải mất núi. Ba mươi năm trước, hai mươi năm trước, mười năm trước cũng vậy. Bốn lần đại hội, Lam Hải giữ được linh mạch. Mấy trăm đệ tử đang tu trên núi này, mỗi sáng kéo triều ở linh mạch này, là nhờ cái thuốc đó. Ta biết nó có giá. Ta đã trả giá cho tông môn.
– Ông trả? – Bà Liễu hỏi. – Hay một trăm sáu mươi tư đứa nhỏ trả?
Trưởng lão Cát không đáp. Bà Liễu đứng dậy, đi tới trước mặt ông, đặt bàn tay già nua lên ngực áo gấm của ông. Cả điện im phăng phắc. Không cần áp, không cần Trấn Nham, người đứng gần cũng nghe được tiếng lạo xạo khe khẽ.
– Bốn mươi năm nay, ông là trưởng lão Kết Tinh duy nhất không dám phá cảnh Thành Ngọc. – Bà nói. – Ông biết vì sao. Ông đã biết từ cái đêm Phù quỳ ở đây.
Tông chủ trên chiếc sập gỗ giơ một ngón tay lên. Chấp sự đến gần, cúi xuống nghe, rồi đứng thẳng lên tuyên bố.
Thúc Tinh Đan bị cấm. Phương thuốc bị đốt ngay tại sân chính điện, trước mặt toàn tông. Tất cả đệ tử đã uống thuốc được Truyền Công Đường khám từng người. Ai đã có vết nứt thì dùng Mẫu Tinh hút bột ra, cảnh giới rơi về Tụ Hải, tu lại từ đầu. Bạch Sa Môn và Hắc Nham Tông đã gửi thư nhận giúp bốn mươi khối Mẫu Tinh từ bí cảnh của họ. Cát Trọng Phiên bị tước chức trưởng lão Đan Đường, không bị phế tu vi, vì tu vi của ông, như bà Liễu nói, tự nó đã là hình phạt. Ông được giao coi ruộng sương sườn đông.
Không ai nói thêm điều đó có nghĩa là gì. Ai cũng biết đó là chỗ của ai.
Bà Liễu lập thêm một gian mới cạnh Đan Đường, gọi là Dưỡng Hải Đường, chuyên chữa cho những người tinh vỡ. Người đứng đầu là Bế Thị Mây, dịch đồ không có linh căn, mười chín tuổi. Lọ thuốc phổi mỗi tháng vẫn gửi về bản Nà Lừa, không phải vì Mây làm việc cho tông môn, mà vì bà Liễu nói đó là một món nợ Lam Hải còn thiếu.
Hôm nghe tin, Mây ngồi giã thuốc trong cối đá, không nói gì. Đọi đi ngang thấy nó cười, cười một mình, rồi lấy tay áo quệt mắt, rồi giã tiếp.
Kiều Minh Viễn viết thư về cảng Hội Thành, nói anh sẽ ở Tụ Hải thêm nhiều năm, có khi mười năm, nói cha đừng gửi bạc nữa, anh tự làm được. Anh nhận chân hứng sương thay Đọi, mỗi sáng dẫn ba đứa dịch đồ mới lên bậc thứ chín. Tháng đầu, chấp sự thấy cậu ấm nhà họ Kiều quát một đứa nhỏ vì làm đổ sương. Tháng thứ hai thì không quát nữa. Anh chỉ đứng trên bờ ruộng, nói: "Cầm cho thẳng. Rớt một giọt là mất một giọt."
Ông Cát đi xuống ruộng sương vào một buổi sáng đầu đông, áo gấm đã đổi thành áo vải nâu. Ông đứng ở bậc thứ nhất rất lâu, nhìn lên bậc thứ chín, nhìn nấm mộ có cây cọc gỗ. Rồi ông cúi xuống, cầm cái gáo sành. Viễn đứng trên bờ, nhìn ông, không nói gì. Ông Cát vuốt lá cỏ hứng đầu tiên. Sương rớt ra ngoài.
Mùa xuân năm sau, Đọi về Cồn Muối.
Bà Liễu cho nó nghỉ trọn mùa muối, từ tháng Ba tới tháng Bảy. Nó đi thuyền chở hàng vào đất liền, rồi đi bộ hai ngày dọc bờ biển. Nó có thể bay. Người Kết Tinh cưỡi được kiếm, cưỡi được cả một tấm ván. Nó không bay. Nó muốn đi qua từng làng, ngửi mùi cá phơi, nghe tiếng sóng ở từng cửa lạch, cho tới khi thấy vệt trắng của ruộng muối hiện ra dưới chân trời.
Đê cát đã đắp lại. Ô nề đã dọn xong một nửa. Lều muối dựng lại bằng tre mới, lợp lá dừa nước. Mạ đang đứng ở ô thứ bảy, cầm cái trang gỗ, cái nón lá buộc dây vải dưới cằm. Chân trái bà đi hơi tập tễnh, di chứng của đêm chạy bão.
Bà thấy nó từ xa. Bà không chạy ra. Bà chỉ đặt cái trang xuống, đứng chờ.
Thằng Tí thì chạy. Nó mười một tuổi, cao tới vai Đọi, đen như củ súng.
– Anh Đọi! Anh tu tiên rồi phải không? Anh bay được không? Anh bay cho em coi!
– Để mai.
– Mai mai hoài!
Đọi xoa đầu nó, đi tới bờ ô thứ bảy. Mạ nhìn nó từ đầu tới chân, lâu, như người ta nhìn một đống muối mới gạt để đoán cân.
– Ốm. – Bà nói.
– Dạ.
– Đen hơn.
– Dạ.
– Cái tay ri là răng?
Đọi giơ bàn tay trái lên. Hai ngón co quắp.
– Cua kẹp, mạ.
Mạ cầm lấy bàn tay nó, xoa xoa hai ngón tay không còn cảm thấy gì. Bàn tay bà thô ráp, đầy vết nứt vì muối, ấm.
Rồi bà quay lại nhìn ô nề.
– Ruộng mới đắp, đất còn non. – Bà nói. – Muối năm ni kết hạt nhỏ, vụn. Ô thứ bảy cũng rứa. Không có hạt cũ trong đất làm mồi.
Đọi nhìn xuống ô nề. Mặt nước chạt phẳng lì, trong, đang bốc hơi dưới nắng tháng Ba, viền ô đã có một lớp váng trắng mỏng. Những hạt muối đầu tiên nhỏ li ti, mịn như cát.
Nó tháo cái ống lồ ô bên hông, mở nút. Hạt muối cuối cùng lăn ra lòng bàn tay nó. Hạt muối mạ lựa từ ô thứ bảy bốn năm trước, đã theo nó lên núi Vọng Triều, xuống Hang Lục Diêm, ra đảo Bàn Thạch. Nó vẫn vuông vức, vẫn trắng đục, góc đã hơi mòn.
Đọi cúi xuống, thả hạt muối vào góc ô thứ bảy, chỗ sát bờ đất, chỗ bóng cây phi lao che nửa buổi.
Mạ nhìn nó làm, không hỏi. Rồi bà cúi xuống nhặt cái trang lên, đưa cho nó.
– Gạt bên ni cho mạ. – Bà nói. – Bên tê để đó. Mai ra coi.
Thằng Tí ngồi chồm hổm trên bờ ô, ngó cái hạt muối nằm dưới làn nước trong.
– Anh Đọi, mai nó có to không?
Đọi gạt muối từ mép ô vào. Muối non, hạt nhỏ, kêu sột soạt dưới trang gỗ. Nắng xiên qua hàng phi lao, hắt lên mặt nước mấy vệt vàng như rơm. Nó nghĩ tới những bậc ruộng sương lúc canh tư, nghĩ tới nấm mộ có cây cọc gỗ, nghĩ tới cái hạt đậu xanh đang nằm trong Hải mình, lớn thêm từng chút một mỗi sáng, chậm, không ai nhìn thấy.
– Mai thì chưa. – Nó nói. – Mốt cũng chưa. Mi ngồi canh với anh.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe