Chương 3: Mâm trầu bị trả về
Rằm tháng Tám năm ấy trăng lên sớm. Sáu giờ chiều, mặt trăng đã tròn vành vạnh trên đỉnh đồi dó, đỏ như lòng đỏ trứng vịt.
Mạ Thuyên không nói có, cũng không nói không. Suốt ba tuần sau buổi Hào đứng gọi ngoài ngõ, mạ vẫn nấu cơm, vẫn ra vườn, vẫn đi chợ, chỉ không nhắc tới chuyện ấy một lời. Thuyên mấy lần định hỏi, rồi lại thôi. Cô tự nhủ mạ không cấm tức là mạ đã nghĩ lại. Mười ba năm rồi, chuyện gì cũng phải có ngày nguôi.
Chiều rằm, mạ dặn cô quét sân, lau bàn thờ, rửa bộ ấm chén. Mạ thay cái áo bà ba màu nâu mới may năm ngoái, chải tóc, búi gọn. Thuyên nhìn mạ ngồi ở ghế gỗ giữa nhà, lưng thẳng, hai tay đặt trên đùi, và cô nghĩ mạ đang chờ khách như người ta chờ khách.
Bảy giờ tối, nhà ông Định sang. Ông Định đi trước, mặc sơ mi trắng cài kín cổ. Bà Lý đi sau, bưng một cái mâm đồng phủ khăn đỏ. Hào đi cuối cùng, tay xách giỏ hoa quả, mặt căng như dây đàn. Dì Hai cũng sang, ngồi ở mép chõng, làm người chứng phía nhà gái.
– Chị Thoan. – Ông Định cúi đầu chào. – Nhà tôi sang thưa chuyện hai đứa nhỏ.
Mạ Thuyên gật đầu, chỉ ghế cho khách ngồi. Bà Lý đặt cái mâm đồng lên bàn, chính giữa, ngay dưới bàn thờ bố Thuyên. Thuyên rót nước. Tay cô run, nước chè sóng ra ngoài chén. Không ai nói gì. Ngoài vườn dế kêu ri ri.
Ông Định hắng giọng.
– Chị Thoan, chuyện của hai đứa, chắc chị biết rồi. Thằng Hào còn một năm nữa mới ra trường, con Thuyên thì mới vào đại học. Nhà tôi không dám nói chuyện cưới xin chi sớm. Hôm ni chỉ sang xin phép cho hai đứa được đi lại đàng hoàng, có lời với nhau. Bốn năm nữa, khi hai đứa học xong, nhà tôi sẽ sang lần nữa.
Mạ Thuyên vẫn không nói gì. Mạ nhìn cái mâm đồng phủ khăn đỏ.
– Còn cái ni... – Ông Định đưa tay nâng tấm khăn đỏ lên. – Tôi muốn trả lại cho nhà chị một thứ.
Trên mâm, ngoài buồng cau và mấy lá trầu têm cánh phượng, nằm gọn trên một tấm vải điều là con dao quắm cán sừng.
Thuyên nhận ra nó ngay. Cán sừng trâu đen bóng, lưỡi cong như mỏ chim, ở chuôi có một vết khía hình chữ thập bố cô tự khắc. Con dao mạ đã ném ra giữa sân mười ba năm trước.
Mạ cô đứng dậy.
Không ai kịp làm gì. Mạ cô hất cả cái mâm đồng xuống nền nhà. Cau lăn, trầu rơi, cái mâm đồng kêu choang một tiếng dài, lăn vòng vòng rồi úp sấp. Con dao văng vào chân bàn thờ.
– Anh mang cái ni vô nhà tôi làm chi? – Mạ hỏi. Giọng mạ không to. Giọng mạ run như dây phơi trong gió. – Anh muốn nói với tôi chi? Anh muốn nói anh còn giữ của chồng tôi? Anh muốn cho tôi coi anh giữ được cả con dao chồng tôi cầm lúc chết?
– Thoan, chị nghe tôi...
– Tôi nghe anh mười ba năm rồi. – Mạ cô nói. – Mười ba năm anh không nói một câu. Chừ anh mang con dao vô, đặt dưới bàn thờ chồng tôi, xin gả con trai anh cho con gái tôi. Anh coi nhà tôi là chi?
Ông Định đứng sững. Bà Lý kéo tay áo chồng, mặt tái nhợt. Hào nhìn Thuyên, Thuyên nhìn mạ.
– Mời anh chị về. – Mạ cô nói. – Mời về.
Nhà ông Định ra về. Dì Hai lặng lẽ nhặt từng quả cau, từng lá trầu bỏ vào cái mâm đồng, rồi bê ra để ngoài cổng, đặt lên cái cột gạch. Con dao quắm vẫn nằm dưới chân bàn thờ. Không ai đụng tới nó.
Đêm đó, lần đầu tiên trong đời, mạ kể cho Thuyên nghe.
Hai mẹ con ngồi ngoài hiên, trăng rằm sáng tới mức thấy rõ từng sợi tóc bạc trên đầu mạ. Mạ kể rằng chuyến đi cuối cùng ấy, bố cô không muốn đi. Mùa mưa sắp tới, rừng trơn, vực sâu. Chính chú Định rủ. Mạ kể rằng chú Định về một mình, hai tay quấn giẻ, nói bố cô ngã vực gãy chân, chú cõng hai ngày, bố cô chết trên lưng chú. Mạ kể rằng những người đàn ông ra đón ở đầu khe nói lại, chú Định mang theo một khối trầm to bằng bắp chân, bọc trong áo mưa. Mạ kể rằng từ hôm đó tới hôm ni, chú Định chưa từng đưa cho nhà mình một đồng, chưa từng nói khối trầm ấy đi đâu. Một năm sau chú mua xe tải.
– Mạ không biết hắn có đẩy bọ mi xuống vực không. – Mạ nói. – Mạ chỉ biết hắn về một mình. Hắn mang trầm về, mang dao về, không mang chồng mạ về.
Thuyên ngồi im. Bàn tay cô lạnh ngắt.
– Mạ không cấm mi. – Mạ nói tiếp. Mạ nhìn lên mặt trăng, không nhìn con. – Mi lớn rồi. Mi thương ai thì mi lấy. Nhưng mi lấy hắn, mi bước qua cái cổng sắt xanh đó, thì mỗi bữa cơm mi ăn ở nhà đó, mi nhớ là mua bằng cái chi.
Mạ đứng dậy, đi vào buồng. Thuyên ngồi lại ngoài hiên cho tới khi trăng xế qua đỉnh đồi.
Sáng hôm sau, cô lên đồi. Hào đã ngồi dưới gốc cây thứ mười bảy từ bao giờ, mắt thâm quầng, áo còn mặc cái sơ mi xanh tối qua.
– Thuyên. – Anh đứng dậy. – Anh không biết bọ anh định mang con dao sang. Anh thề với em, anh không biết.
– Anh hỏi bọ anh chưa?
– Hỏi rồi.
– Bọ anh nói răng?
Hào im lặng. Anh cúi xuống nhặt một cái que khô, bẻ đôi.
– Bọ anh nói, chuyện đó bọ không nói. Con muốn nghĩ răng thì nghĩ.
Thuyên nghe câu ấy như nghe một tiếng sét. Một người bị oan sẽ cãi. Một người bị oan sẽ đập bàn, sẽ thề, sẽ kể ra từng chi tiết. Chỉ có người không còn gì để cãi mới nói, con muốn nghĩ răng thì nghĩ.
– Rứa thì anh nghĩ răng? – Cô hỏi.
– Anh không biết. – Hào nói. Giọng anh vỡ ra. – Anh không biết, Thuyên. Anh hỏi bọ ba lần. Lần thứ ba bọ anh đứng dậy đi ra vườn. Mạ anh khóc. Mạ anh nói đừng hỏi nữa. Anh không biết phải nghĩ răng.
Thuyên nhìn cây dó thứ mười bảy. Cái đinh đồng mới đóng được hơn một tháng, đầu đinh còn sáng bóng, vàng tươi giữa lớp vỏ xám.
– Em nghĩ được rồi. – Cô nói.
– Thuyên...
– Bọ anh mang trầm của bọ em về. Bọ anh mua xe bằng trầm của bọ em. Bọ anh mang con dao bọ em cầm lúc chết sang đặt dưới bàn thờ nhà em. Em nghĩ được rồi, anh Hào.
– Đó là chuyện của bọ anh. – Hào bước tới một bước. – Không phải của anh.
– Bữa cơm anh ăn từ năm mười tuổi tới chừ là của bọ anh. – Thuyên lùi lại một bước. – Cái trường đại học anh học là tiền của bọ anh. Cái máy khoan anh khoan cây ni, cái men anh bơm vô cây ni, anh mua bằng tiền chi?
Hào đứng sững như bị tát. Thuyên biết câu ấy độc. Cô biết khi nói ra. Cô vẫn nói, vì cô không tìm được câu nào khác để cắt sợi dây đang trói cô vào cái gốc cây này.
– Anh về đi. – Cô nói, y như mạ cô đã nói. – Anh về đi.
Hào đứng thêm một lúc. Rồi anh quay lưng, đi xuống con dốc phía bên kia đồi. Lần này anh không bẻ que. Hai bàn tay anh buông thõng hai bên.
Chiều hôm ấy, người trong làng kể lại, nhà ông Định có tiếng cãi nhau to, tiếng đồ đạc đổ vỡ. Tối hôm ấy, Hào xách ba lô ra đầu làng đón chuyến xe khách cuối cùng đi Vinh, từ Vinh ra Hà Nội. Anh không về nhà dịp Tết năm ấy. Cũng không về Tết năm sau.
Thuyên vào Vinh học được đúng ba tháng.
Tháng Mười Hai, mạ ngất ngoài vườn. Bác sĩ ở bệnh viện tỉnh nói khối u trong gan đã lớn, đã lan. Thuyên xin bảo lưu, về nhà chăm mạ. Cô học cách đổ thuốc qua ống, học cách lật người cho mạ đỡ loét lưng, học cách ngồi im khi mạ đau tới mức cắn nát cả gối. Thằng Lực mười lăm tuổi, ngày đi học, tối về nấu cháo, đêm nằm ở chõng ngoài cửa buồng canh mạ.
Có một lần, nửa đêm, mạ tỉnh dậy, nắm tay Thuyên.
– Mi có giận mạ không?
– Giận chi hả mạ?
– Chuyện thằng Hào.
Thuyên lắc đầu. Mạ nhìn cô, như muốn nói thêm một điều gì, rồi lại nhắm mắt. Đó là lần cuối cùng mạ nhắc tới cái tên ấy.
Mạ mất vào tháng Ba năm hai nghìn mười bảy, đúng mùa dó ra hoa. Hoa dó nhỏ, màu vàng nhạt, mùi hăng hắc, rụng đầy trên mộ mạ trong ba ngày đầu. Đám tang có cả làng tới. Nhà ông Định gửi một vòng hoa, Thuyên bảo dì Hai đem trả lại. Ông Định không đến. Bà Lý không đến. Người ta nói ông Định đứng ở đầu ngõ cả buổi chiều, nhìn đám tang đi qua, rồi lặng lẽ về.
Hết trăm ngày mạ, Thuyên gửi Lực cho dì Hai, theo một người quen vào Nha Trang, xin làm ở một xưởng chế biến trầm. Ban đầu cô rửa gỗ, đục gỗ, ngồi cả ngày cạo phần gỗ trắng khỏi những mảnh trầm đen. Rồi bà chủ xưởng phát hiện cô có cái mũi rất thính, đốt một mẩu trầm là cô nói được trầm rừng hay trầm cấy, cấy mấy năm, ngâm dầu hay không ngâm dầu. Năm thứ ba, cô được đưa lên làm người chấm trầm.
Chín năm, cô ngửi hàng nghìn khúc trầm từ khắp nơi gửi về. Có những khúc trầm từ Hà Tĩnh. Mỗi lần ngửi thấy mùi đất đỏ quen thuộc ấy, cô lại nghĩ tới một cái cây có cái đinh đồng. Cô không về. Mỗi năm chỉ về đúng một lần, ngày giỗ mạ, sáng về chiều đi, không lên đồi.
Cô nghe người làng kể, Hào học xong thì vào Đồng Nai làm cho một trang trại dó lớn, rồi đi học thêm, rồi làm kỹ sư. Cô nghe kể ông Định bị tai biến hai năm trước, nằm liệt một bên, và Hào bỏ việc trong ấy về làng. Cô nghe kể Hào lập tổ hợp tác, dạy bà con cấy trầm bằng men vi sinh, không dùng hóa chất, mua trầm của bà con giá cao hơn thương lái. Cô nghe hết, và không để lại một lời bình.
Bây giờ, ngồi trên cái chõng tre giữa nhà, nhìn mớ giấy tờ thằng Lực bày ra, Thuyên mới hiểu tại sao mấy năm nay mỗi lần cô hỏi chuyện nhà, thằng em đều bảo mọi chuyện ổn.
Mười một tờ giấy biên nhận viết tay. Tờ đầu tiên đề tháng Ba năm ngoái, ba mươi triệu. Tờ cuối cùng đề tháng Tám năm nay, năm mươi triệu. Cộng lại hai trăm tám mươi triệu tiền gốc. Bên dưới mỗi tờ đều có một dòng chữ nhỏ: lãi theo thỏa thuận. Và một tờ giấy học trò gấp tư, nét chữ to, nghiêng, ký tên Lê Văn Lực. Tờ giấy ghi rằng nếu tới ngày rằm tháng Mười âm lịch năm nay không trả đủ toàn bộ gốc và lãi, Lực đồng ý bán toàn bộ lô đất đồi trồng dó của gia đình, gồm cả đất và cây, cho ông Trần Văn Toàn, để cấn trừ nợ.
– Lãi theo thỏa thuận là bao nhiêu? – Thuyên hỏi.
Lực đưa cho cô cái điện thoại. Trong một cuộc trò chuyện nhắn tin, Toàn gửi một dòng: lãi ba nghìn trên một triệu một ngày, quá hạn thì gấp đôi.
Thuyên tính nhẩm. Rồi tính lại. Rồi lấy điện thoại ra bấm máy tính, vì cô không tin con số trong đầu mình.
Ba nghìn đồng mỗi ngày trên một triệu là hơn một trăm phần trăm một năm. Hai trăm tám mươi triệu tiền gốc, cộng lãi tới rằm tháng Mười, Toàn sẽ đòi gần sáu trăm triệu.
Còn mười tám ngày.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình