AI Truyện
Mười năm cấy trầm trên đồi Khe Nác

💞 Ngôn tình

Cái đinh đồng của người đi trầm

Mười năm cấy trầm trên đồi Khe Nác · Chương 2/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Cái đinh đồng của người đi trầm

Năm Thuyên sáu tuổi, bố cô đi rừng mười một ngày, và về nhà trên một cái cáng bằng hai cây tre.

Cô nhớ được rất ít về bố. Nhớ cái mùi thuốc lào và mùi khói bếp trên áo ông. Nhớ ông hay ngồi ở bậc thềm vót que tre, vót đi vót lại một cái que cho tới khi nó tròn trơn như chiếc đũa. Nhớ cái túi vải bạt màu cứt ngựa ông đeo mỗi lần đi rừng, bên trong có con dao quắm cán sừng, một cái búa nhỏ, một ống tre đựng muối, và một túi đinh đồng kêu leng keng.

– Đinh ni để làm chi rứa bọ? – Có lần cô hỏi.

– Để đánh dấu. – Bố cô nhặt một cái đinh, đặt vào lòng bàn tay cô. Cái đinh dài bằng đốt ngón tay người lớn, đầu tròn, màu vàng đục. – Trong rừng thấy cây dó nào có trầm mà chưa lấy được thì đóng cái đinh ni vô. Đinh sắt thì gỉ, rụng. Đinh đồng thì ở đó mãi. Mười năm sau quay lại, sờ thấy đinh là biết cây của mình.

– Rứa cây có đau không bọ?

Bố cô cười, xoa đầu cô.

– Đau chớ. Nhưng dó không đau thì không ra trầm, con ạ.

Lần cuối cùng ông đi, ông đi với chú Định. Hồi ấy chú Định chưa có xe tải, chưa có cái cổng sắt sơn xanh, chưa có hai cây cau vua. Chú chỉ là người cùng xóm, hơn bố cô ba tuổi, chuyên đi trầm với bố từ hồi hai người còn trai trẻ. Hai người đàn ông ra đi lúc gà gáy, vai vác gạo, mạ cô đứng ở ngõ nhìn theo, không nói câu nào. Thuyên còn nhớ mạ không nói câu nào. Những lần trước mạ hay dặn đi dặn lại, coi chừng rắn, coi chừng vực, coi chừng mưa rừng. Lần đó mạ đứng im.

Mười một ngày sau, cả xóm nghe tiếng người hú từ phía đầu khe. Đàn ông trong làng chạy ra. Rồi họ khiêng về một cái cáng, trên cáng phủ một tấm ni lông xanh. Chú Định đi bên cạnh, hai bàn tay quấn giẻ, giẻ thấm máu khô đen. Mặt chú hốc hác như người ốm nặng, môi nứt nẻ.

Người lớn không cho Thuyên lại gần cái cáng. Dì Hai bế cô sang nhà hàng xóm. Từ bên kia hàng rào, cô nghe tiếng mạ gào, một tiếng gào dài như xé vải, rồi im bặt. Rồi nghe tiếng người lớn xì xào. Ngã vực. Gãy chân. Hai ngày. Chết trên đường về.

Buổi chiều hôm ấy, chú Định mang tới nhà cô cái túi vải bạt màu cứt ngựa. Chú đứng ở giữa sân, hai tay đưa cái túi ra. Mạ cô đi từ trong nhà ra, mắt đỏ, tóc rối. Mạ nhìn cái túi, rồi nhìn vào mặt chú Định, rất lâu.

– Trầm đâu? – Mạ hỏi.

Chú Định không trả lời.

– Tui hỏi anh, trầm đâu?

– Thoan. – Chú Định nói. Giọng chú khàn đặc. – Để lúc khác. Chừ chưa phải lúc.

Mạ giật cái túi khỏi tay chú, quăng ra giữa sân. Con dao quắm văng ra, cái búa văng ra, ống tre muối vỡ đôi, và túi đinh đồng bung miệng, những cái đinh vàng đục lăn tứ tung trên nền đất.

– Anh về đi. – Mạ nói. – Anh về đi.

Chú Định đứng thêm một lúc. Rồi chú cúi xuống, nhặt con dao quắm và cái túi đinh, lặng lẽ đi ra ngõ. Mạ không cản. Mạ không nhìn theo.

Trong lúc người lớn còn đứng ngây ra, Thuyên chui qua hàng rào, bò ra sân, nhặt một cái đinh đồng lăn vào gốc cây cau. Cô nắm chặt nó trong tay suốt buổi tối hôm đó, suốt đêm đưa ma, suốt ba ngày chôn cất. Không ai để ý một đứa trẻ sáu tuổi nắm chặt tay.

Một năm sau, chú Định mua chiếc xe tải đầu tiên. Hai năm sau, nhà chú dựng cổng sắt. Người trong làng bắt đầu nói. Ở cái chợ nhỏ, ở đám giỗ, ở bến nước, người ta nói nhỏ với nhau. Rằng chuyến đi trầm cuối cùng ấy được một khối trầm to bằng bắp chân. Rằng ông Lương là người tìm ra cây. Rằng ông Định về một mình, mang theo khối trầm, không đưa cho mẹ góa con côi nhà ông Lương một đồng.

Mạ Thuyên không bao giờ nói chuyện ấy với con. Nhưng mạ cũng không bao giờ bước qua cổng nhà ông Định, không bao giờ ngồi chung mâm với bà Lý, và mỗi lần đi chợ gặp nhà ấy, mạ cúi mặt đi vòng qua lối khác. Thuyên lớn lên với cái lối đi vòng ấy. Cô không cần ai giải thích.

Cho tới năm cô mười chín tuổi.

Mùa hè năm hai nghìn mười sáu, Hào về làng sau năm thứ ba đại học Lâm nghiệp ở Hà Nội. Anh hai mươi mốt tuổi, cao hơn hồi trước cả cái đầu, da trắng ra vì ở phố, nói giọng đã pha chút Hà Nội. Thuyên vừa thi đại học xong, chờ kết quả, ngày nào cũng lên đồi làm cỏ cho mấy hàng dó của bố.

Hôm đầu tiên anh lên đồi, cô đang ngồi nghỉ dưới gốc cây thứ mười bảy, ăn nắm xôi mạ gói bằng lá chuối.

– Dó nhà o đẹp hè. – Anh nói, đứng ở bờ rào. – Mười bốn năm tuổi rồi mà chưa cấy lỗ nào.

– Nhà tôi không cấy. – Thuyên đáp, không ngẩng lên. – Mạ tôi nói để cây tự lên trầm.

– Tự lên thì cả trăm cây may ra được một. – Hào nói. – Phải làm cho cây bị thương thì nó mới tiết dầu ra chữa vết thương. Dầu đó thấm vô gỗ, lâu năm thành trầm. Trong rừng thì sâu đục, sét đánh, gãy cành. Ở vườn thì người ta khoan lỗ, đưa men vi sinh vô.

– Anh học ba năm đại học để về dạy tôi cái ni à?

Hào bật cười. Cái cười làm anh trông bớt giống người phố đi một nửa.

– Không. Anh học ba năm để biết là bọ o nói đúng. Dó không đau thì không ra trầm.

Thuyên ngẩng phắt lên.

– Ai nói với anh câu đó?

– Bọ anh. – Hào nói. – Bọ anh nói câu đó là của chú Lương. Hồi nhỏ, mỗi lần anh ngã xước đầu gối, khóc, bọ anh lại nói, dó không đau thì không ra trầm, nín đi.

Thuyên không nói gì. Cô cúi xuống ăn nốt nắm xôi, nhai rất lâu. Hôm ấy, cô không đuổi anh về.

Hôm sau anh lại lên. Hôm sau nữa cũng vậy. Có hôm anh mang theo một cái máy khoan cầm tay, có hôm anh mang theo một chai nước chè xanh, có hôm chẳng mang gì, chỉ ngồi dưới gốc dó nói chuyện. Anh kể chuyện trường lớp, chuyện ông thầy dạy môn bệnh cây hay đọc thơ, chuyện ký túc xá mùa đông không có nước nóng. Cô kể chuyện đề thi, chuyện con bò nhà dì Hai đẻ đôi, chuyện mạ dạo này hay đau vùng bụng bên phải mà không chịu đi khám.

Người trong làng thấy. Làng nhỏ, đồi trọc, ai đứng dưới gốc cây nào cũng thấy từ ba ngọn đồi khác. Dì Hai có lần kéo Thuyên vào bếp, hỏi nhỏ:

– Mi với thằng Hào nhà ông Định là răng?

– Không răng cả, dì.

– Mạ mi biết chưa?

– Có chi mô mà biết.

Dì Hai nhìn cô, thở dài, không hỏi nữa.

Tháng Bảy, mưa dông. Một buổi chiều, trời sập tối giữa ba giờ chiều, mưa trút xuống như ai đổ nước từ trên mây. Hai đứa chạy vào cái chòi canh bằng tre ở góc đồi, ướt sũng. Mái chòi dột, nước nhỏ tong tong xuống giữa hai người. Hào cởi cái áo khoác mỏng ướt nhẹp của anh, vắt nước, rồi khoác lên vai cô. Cái áo ướt chẳng ấm được gì, nhưng cô không bỏ ra.

– Thuyên. – Anh gọi. Lần đầu anh gọi tên cô không kèm chữ o. – Mai anh cấy cho em một cây nghe.

– Cây mô?

– Cây em hay ngồi. Cây mười bảy.

– Mạ em không cho.

– Mạ em không cho cấy hóa chất. Anh không dùng hóa chất. Anh chỉ khoan ba lỗ nhỏ, đưa men vi sinh vô, rồi để đó. Mười năm sau, trầm đen tới lõi.

– Mười năm. – Thuyên nhắc lại. – Mười năm nữa em hai mươi chín, anh ba mươi mốt.

– Ừ. – Hào nói. Ngoài kia mưa đã ngớt, chỉ còn rả rích. – Mười năm nữa, mình chặt cây ni. Rồi anh cưới em.

Thuyên không trả lời. Cô thò tay vào túi áo, lấy ra một vật nhỏ, đặt vào lòng bàn tay anh.

Một cái đinh đồng, màu vàng đục, đầu tròn, dài bằng đốt ngón tay người lớn.

– Của bọ em. – Cô nói. – Em giữ mười ba năm rồi.

Sáng hôm sau, trời trong vắt sau mưa. Hào khoan ba lỗ trên thân cây thứ mười bảy, mỗi lỗ sâu chừng một phần ba thân, xoáy theo hình vòng. Anh bơm men vào từng lỗ, nút lại bằng nút gỗ. Thuyên đứng bên cạnh, tay cầm cái búa nhỏ.

– Đóng ở mô? – Cô hỏi.

– Cạnh lỗ trên cùng. – Anh chỉ. – Chỗ ni nhiều dầu nhất.

Cô đặt cái đinh vào thân cây, nghiêng nghiêng, gõ một nhát. Cây rung nhẹ, mấy giọt sương còn sót trên lá rơi lộp độp xuống tóc hai người. Cô gõ thêm nhát nữa, nhát nữa, cho tới khi cái đinh lút vào gỗ, chỉ còn chừa cái đầu tròn.

– Mười năm. – Hào nói.

– Mười năm. – Cô nhắc lại.

Họ đứng đó rất lâu. Bên dưới đồi, khói bếp từ các nhà trong làng bốc lên thẳng tắp trong buổi sáng lặng gió. Cô nhận ra mình đang nắm tay anh, mà không nhớ hai bàn tay nắm vào nhau từ lúc nào.

Ba tuần sau, Thuyên nhận giấy báo trúng tuyển ngành Hóa ở trường đại học tại Vinh. Hôm ấy Hào đạp xe từ nhà sang, đứng ở ngoài ngõ, không dám vào, chỉ gọi vọng:

– Thuyên ơi! Rằm tháng Tám bọ mạ anh sang nhà em!

Mạ cô đang ngồi ngoài hiên vặt rau. Bàn tay mạ dừng lại giữa chừng, một nắm rau lang lơ lửng giữa không trung.

– Sang làm chi? – Mạ hỏi, không ngẩng lên. Giọng mạ rất nhẹ, nhẹ tới mức Thuyên phải nín thở mới nghe được.

Hào đứng ở ngoài ngõ, đỏ mặt, không biết trả lời ra răng. Thuyên đứng ở bậc thềm, tay còn cầm tờ giấy báo trúng tuyển.

Cô chưa kịp nói với mạ. Mười ba năm đi vòng lối khác, cô vẫn chưa một lần hỏi mạ vì răng.

— Hết chương 2 —

Mục lục Mười năm cấy trầm trên đồi Khe Nác

  1. 1Vòng sơn đỏ trên cây dó thứ mười bảy12 phút đọc
  2. 2Cái đinh đồng của người đi trầm9 phút đọc
  3. 3Mâm trầu bị trả về11 phút đọc
  4. 4Tờ giấy tay của thằng em10 phút đọc
  5. 5Người đàn ông chỉ nói được một chữ9 phút đọc
  6. 6Món nợ hai đời ở chợ Rú10 phút đọc
  7. 7Lời hứa với người chết10 phút đọc
  8. 8Đêm tiếng cưa máy10 phút đọc
  9. 9Chỗ bị thương sâu nhất10 phút đọc
  10. 10Mùi trầm ở ba ngôi mộ10 phút đọc

Về truyện này

Mười năm cấy trầm trên đồi Khe Nác là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →