AI Truyện
Mười một giây không có tiếng

🔍 Trinh thám

Áo mưa cánh dơi

Mười một giây không có tiếng · Chương 9/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Áo mưa cánh dơi

Người mở cổng cho chúng tôi lúc sáu giờ sáng thứ Năm không phải ông Nhuận, mà là vợ ông. Một người đàn bà nhỏ thó, tóc búi, mặc bộ đồ ngủ hoa, khoác vội cái áo len. Nhìn thấy Khởi là bà biết.

Tôi đọc được điều ấy trên mặt bà trước khi bà nói. Nghề của tôi là đọc mặt người ta. Bà không ngạc nhiên. Bà không sợ. Bà chỉ mệt, cái mệt của người đã thức trắng nhiều đêm chờ một tiếng gõ cửa.

Nhà ông Nhuận ở một con ngõ nhỏ phía Long Biên, căn nhà ba tầng sơn vàng, cổng sắt, sân trước để hai chiếc xe máy. Một chiếc xe tay ga mới. Một chiếc Cub cũ màu xanh rêu, yên rách được bọc lại bằng tấm vải bạt.

Khởi đọc lệnh khám xét. Ông Nhuận xuống tới chân cầu thang thì dừng lại. Ông mặc áo ngủ, đeo kính, tóc rối. Ông nhìn Khởi, nhìn tờ giấy, rồi nhìn tôi đứng sau lưng Khởi. Ông không nói gì. Tay phải ông đưa lên dái tai phải. Rồi, lần đầu tiên, tôi thấy ông nhận ra mình đang làm gì. Ông giật tay xuống như chạm phải lửa.

Phòng khách nhà ông Nhuận treo kín ảnh. Ông Tảo nhận bằng nghệ nhân. Ông Tảo bắt tay một vị khách nước ngoài. Ông Tảo đứng trước một bức tranh khảm lớn trong một triển lãm. Bức nào cũng có ông Nhuận, đứng cạnh, lùi lại nửa bước, hơi lệch sang một bên, không bao giờ che mặt ai. Đúng chỗ đứng của người phiên dịch. Hai mươi hai năm, trong từng tấm ảnh, ông chưa đứng sai chỗ một lần.

Họ khám chiếc Cub trước. Cốp xe trống, chỉ có một cái giẻ lau, một cái bơm tay. Họ khám nhà, từng tầng. Tủ quần áo, gầm giường, nhà kho dưới gầm cầu thang. Không có áo mưa xanh nào.

– Tôi đã nói với anh. – Ông Nhuận nói, giọng đều. – Áo rách, tôi vứt rồi.

Khởi không trả lời. Anh nhìn bà vợ ông Nhuận. Bà đứng ở góc bếp, hai tay nắm chặt cái vạt áo len, mắt nhìn xuống nền gạch.

Tôi cũng nhìn bà. Bà tên Hằng, Đạt đã ghi trong hồ sơ, năm mươi lăm tuổi, giáo viên tiểu học về hưu. Bà là người đã khai với công an hôm thứ Bảy rằng tối thứ Năm chồng bà ở nhà, ngủ cạnh bà cả đêm.

Khởi đi tới, kéo một cái ghế, ngồi xuống đối diện bà, ở bàn ăn. Anh không hỏi gì về áo mưa. Anh lấy trong cặp ra một mảnh giấy gấp đôi, nhàu nát, đặt lên bàn, mở ra.

Bố ơi, con xin lỗi. Con sẽ học lại ra dấu.

– Chị có biết thằng Tùng không? – Khởi hỏi nhẹ nhàng.

Bà Hằng nhìn mảnh giấy. Môi bà mím lại.

– Biết. – Bà nói, giọng khàn. – Hồi nó mười mấy tuổi, mẹ nó còn sống, nhà anh Tảo hay sang đây ăn cơm. Nó gọi tôi là cô Hằng. Nó hay sang chơi với con gái tôi.

– Nó bị tạm giữ từ tối thứ Sáu tới chiều hôm qua. – Khởi nói. – Vì một bản dịch. Mảnh giấy này nó viết tối thứ Năm, định mang tới xin lỗi bố. Nó đứng ở đầu ngõ, thấy có người áo mưa xanh đứng với bố nó, nó quay về. Nó không biết bố nó chết. Nó tưởng bố nó có bạn tới chơi.

Bà Hằng ngồi im. Rồi bà ngẩng lên, nhìn qua vai Khởi, nhìn về phía chân cầu thang, nơi ông Nhuận vẫn đứng. Hai vợ chồng nhìn nhau. Tôi không đọc được gì trong cái nhìn ấy. Có những thứ không có ký hiệu.

– Tối thứ Năm. – Bà Hằng nói, mắt vẫn nhìn chồng. – Chín giờ rưỡi ông ấy dắt xe Cub ra. Ông ấy bảo đi có việc, để điện thoại ở nhà, ai gọi thì bảo ông ấy ngủ rồi. Mười một giờ mười lăm ông ấy về, ướt hết. Ông ấy ngồi dưới bếp tới gần sáng. Không nói gì. Sáng thứ Sáu ông ấy bảo tôi: nếu ai hỏi, nói tôi ở nhà cả tối. Tôi hỏi sao. Ông ấy bảo: em đừng hỏi.

– Còn áo mưa? – Khởi hỏi.

Bà Hằng đứng dậy. Ông Nhuận bước một bước tới, rồi dừng lại khi một chiến sĩ trẻ đứng chắn trước mặt. Bà Hằng không nhìn chồng nữa. Bà đi lên cầu thang, lên tầng ba, ra sân thượng. Chúng tôi đi theo.

Sân thượng có mấy chậu hoa giấy, một dàn phơi quần áo, một cái bồn nước inox lớn đặt trên giá sắt. Bà Hằng cúi xuống, thò tay vào khe hẹp giữa cái bồn nước và bức tường, lôi ra một cái túi nilon đen buộc chặt.

– Sáng thứ Sáu ông ấy bảo tôi mang đi vứt. – Bà nói, giọng đều đều, như kể chuyện nhà người khác. – Tôi không vứt. Áo còn tốt. Chỉ rách một chỗ, vá bằng băng dính là dùng được. Ba mươi năm lấy nhau, nhà này chưa vứt cái gì còn dùng được. Tôi để đây, định khi nào ông ấy hết rối thì lấy ra.

Khởi đeo găng tay, mở túi.

Một cái áo mưa cánh dơi màu xanh lá đậm. Vạt trái có một đường rách dài chừng một gang, dán ngang bằng mấy đoạn băng dính đen. Đúng cái áo mà Hào đã tả, ngồi dưới hai cái camera, ra dấu bằng đôi tay còn vết bỏng lò nướng.

Người kỹ thuật trải cái áo ra trên tấm bạt. Ánh nắng sớm xiên qua dàn hoa giấy, rọi lên lớp nhựa xanh. Và ở những nếp gấp, ở đường may cổ áo, ở chỗ hai vạt cánh dơi gấp vào nhau, có một thứ gì đó lấp lánh. Lấm tấm. Xanh, hồng, tím, như ai rắc kim tuyến.

Bụi xà cừ.

Tôi nhìn nó và thấy lại cái nền gạch hoa của xưởng ông Tảo sáng thứ Sáu. Thứ bụi lấp lánh mà người ta dẫm lên mỗi ngày, thứ bụi chỉ có ở những nơi người ta cưa, giũa, mài vỏ trai.

Người kỹ thuật lật vạt áo bên trái. Ở mặt trong có một cái túi nhỏ, loại túi người ta may vào áo mưa để đựng chìa khóa xe. Anh ta thò hai ngón tay đeo găng vào túi, rồi rút ra, rất chậm.

Trên đầu ngón tay anh ta là một con cá chép nhỏ xíu, dài không quá một đốt ngón tay, cắt từ vỏ trai, thân uốn cong, đuôi xòe. Từng cái vảy được khắc bằng mũi dao nhỏ như sợi tóc. Mặt sau còn dính một lớp keo đã khô thành màu nâu nhạt.

Không ai nói gì. Khởi nhìn tôi. Tôi biết anh nhớ.

Con thứ chín.

Thầy làm tám con rồi. Con thứ chín thầy cắt xong trước hôm em về quê, để trên bàn, chờ keo khô thì gắn. Con thứ chín đâu rồi.

Tôi không biết nó đã rơi vào cái túi ấy thế nào. Có thể trong lúc giằng co, ông Tảo đang cầm nó trong tay, như người thợ cả đời vẫn cầm một món gì đó trong tay khi nói chuyện. Có thể nó nằm trên mép bàn, và cái vạt áo mưa cánh dơi quệt qua. Có thể ông Tảo đã cố tình nhét nó vào. Tôi sẽ không bao giờ biết. Nhưng nó đã ở đó, bảy ngày, trong cái túi đựng chìa khóa của một cái áo mưa giấu sau bồn nước. Trong khi đó, người mặc nó ngồi ở trụ sở công an, dịch lời người khác.

Họ tìm thấy hộp sắt đựng tiền của ông Tảo dưới đáy thùng gạo nhà bà Hằng, bọc trong hai lớp túi nilon. Tám mươi triệu, còn nguyên dây chun. Bà Hằng nói bà không biết cái hộp ấy ở đó. Tôi tin bà. Tôi thấy mặt bà khi người ta lôi nó ra.

Ông Nhuận không bị còng tay ở nhà. Khởi để ông tự thay quần áo, có một chiến sĩ đứng ở cửa phòng. Ông xuống cầu thang, mặc cái áo khoác dạ, đeo cà vạt, như người đi dự lễ. Đi ngang qua bà Hằng ở chân cầu thang, ông dừng lại. Ông định nói gì đó. Rồi ông không nói. Ông chỉ đặt tay lên vai bà một giây, rồi đi ra.

Ở cổng, ông quay lại tìm tôi.

– Chị Diệp. – Ông nói. Lần đầu tiên từ sáng tới giờ ông nói với tôi. – Tôi muốn khai.

– Ông khai với anh Khởi.

– Tôi khai với anh Khởi. – Ông nói. – Nhưng tôi muốn khai bằng tay. Trước mặt ông Mẫn. Và con bé Xuyến. Tôi nợ họ một câu bằng thứ tiếng của họ.

Ông dừng lại, rồi nói thêm.

– Và tôi muốn chị dịch. Chị là người duy nhất ở đây đọc được tay tôi mà không phải là tôi.

Khởi nhìn tôi. Tôi biết anh đang hỏi. Một người phiên dịch đã ký vào bản dịch chống lại bản dịch của người này, giờ lại dịch lời khai của chính người này. Luật sư nào cũng có thể nói đó là không khách quan. Anh có thể gọi một người khác. Bên trung tâm có danh sách.

Nhưng ở cả cái thành phố này, có mấy người đọc được kiểu ra dấu Hải Phòng những năm sáu mươi? Cái kiểu mà một bà giáo và mười mấy đứa trẻ Điếc đã cùng nhau nghĩ ra trong sân một ngôi chùa bên sông Cấm.

– Tôi dịch. – Tôi nói. – Có ông Mẫn ngồi đó. Tôi dịch sai một chữ thì ông Mẫn biết. Xuyến cũng biết. Tôi xin quay video toàn bộ, hai camera, đủ sáng.

Khởi gật đầu.

Chiều hôm ấy, ông Mẫn đi xe khách từ Hải Phòng lên, mặc bộ com lê cũ màu nâu đã sờn cổ tay, có lẽ là bộ quần áo đẹp nhất ông có. Xuyến tới cùng Hào, hai đứa nắm tay nhau công khai trước cửa trụ sở, không ai buông. Tùng cũng tới. Anh ta xin được ngồi ngoài hành lang, nói chỉ cần ngồi đó thôi, không cần vào.

Khởi cho xếp phòng lại như hôm lấy lời khai Hào. Hai camera. Đèn đủ. Ông Nhuận ngồi một bên bàn. Đối diện ông là ông Mẫn và Xuyến. Khởi ngồi đầu bàn. Tôi ngồi cạnh Khởi, lùi lại một chút, đúng chỗ đứng của người phiên dịch.

Trước khi bắt đầu, ông Mẫn nhìn ông Nhuận rất lâu. Rồi ông giơ tay phải lên, đưa lên dái tai phải của chính ông, véo nhẹ, kéo xuống ba nhịp, rồi chỉ vào ông Nhuận.

Ông Nhuận nhìn cái tên mình. Cái tên ông đã bỏ đi từ năm mười lăm tuổi. Cái tên mà ông Tảo đã gọi trong mười một giây cuối cùng.

Ông cúi đầu. Rồi ông giơ tay trái lên.

— Hết chương 9 —

Mục lục Mười một giây không có tiếng

  1. 1Bàn tay đập vào màn hình11 phút đọc
  2. 2Mười một giây9 phút đọc
  3. 3Người làm chứng bên lò bánh mì9 phút đọc
  4. 4Bức bình phong không bị cướp10 phút đọc
  5. 5Số đếm của người Hải Phòng9 phút đọc
  6. 6Ông Mẫn ở xóm thuyền10 phút đọc
  7. 7Lời khai của người phiên dịch10 phút đọc
  8. 8Bàn tay trái dưới ngọn đèn9 phút đọc
  9. 9Áo mưa cánh dơi9 phút đọc
  10. 10Con cá chép thứ chín10 phút đọc

Về truyện này

Mười một giây không có tiếng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →