AI Truyện
Mười một giây không có tiếng

🔍 Trinh thám

Bàn tay đập vào màn hình

Mười một giây không có tiếng · Chương 1/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Bàn tay đập vào màn hình

Sáu giờ bốn mươi sáng, điện thoại tôi rung trên gối, và trên màn hình là hai bàn tay đang đập vào nhau.

Không phải gọi thoại. Người Điếc không gọi thoại. Đó là cuộc gọi video từ Xuyến, cô thợ khảm trai hai mươi ba tuổi tôi quen ở mấy buổi sinh hoạt của hội người Điếc bên phường Hồng Hà. Khung hình nhảy loạn, lúc thấy trần nhà, lúc thấy cái cằm, lúc thấy một mảng nền gạch hoa. Rồi Xuyến dựng được điện thoại lên đâu đó, lùi lại, và tôi thấy mặt em.

Mặt em trắng như vôi. Hai tay em ra dấu nhanh tới nỗi các ngón dính vào nhau.

THẦY. CHẾT. THẦY NẰM. ĐẦU. MÁU. CHỊ ĐẾN. CÔNG AN HỎI EM KHÔNG AI HIỂU.

Tôi ngồi bật dậy. Thằng Bin con tôi ngủ phòng bên cạnh, cái quạt sưởi kêu rì rì. Tôi kẹp điện thoại giữa vai và tai theo thói quen, rồi nhận ra như thế là vô ích, đặt nó xuống gối, giơ hai tay lên trước camera.

CHỊ ĐẾN NGAY. EM NGỒI XUỐNG. ĐỪNG ĐỘNG VÀO GÌ. ĐỂ ĐIỆN THOẠI CHO CÔNG AN NHÌN CHỊ.

Xuyến gật đầu lia lịa. Khung hình xoay đi. Một gương mặt đàn ông hiện ra, ngoài bốn mươi, da sạm, lông mày rậm, đội mũ kê pi ướt lấm tấm. Anh ta nhìn vào điện thoại như nhìn một vật lạ.

– Chị là ai? – Anh ta hỏi to, giọng có âm điệu của người vùng cao.

– Tôi là phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu. Tên Diệp. Em Xuyến gọi tôi. Anh cho tôi địa chỉ, hai mươi phút tôi có mặt.

– Ngõ bên đê, xưởng khảm của ông Tảo. Chị biết không?

Tôi biết. Ai làm nghề như tôi ở Hà Nội mà không biết xưởng khảm trai của ông Ninh Văn Tảo.

Tôi rời nhà lúc trời còn xám. Tháng Hai, ra Giêng được hơn hai tuần, mưa phùn lất phất cả đêm, mặt đường bóng nhẫy, tường nhà nào cũng rịn nước. Tôi đi xe máy qua cầu, gió sông thốc vào cổ áo lạnh buốt. Trong đầu tôi chỉ có một hình ảnh: ông Tảo năm ngoái đứng trên sân khấu hội trường nhận giấy khen nghệ nhân, hai bàn tay gầy guộc giơ lên ra dấu cảm ơn. Cả hội trường người Điếc đồng loạt giơ tay lên vẫy. Một rừng bàn tay xao động như lá, không ai vỗ tay thành tiếng.

Ngõ nhỏ, ngoằn ngoèo, một bên là tường đê rêu xanh, một bên là dãy nhà ống cũ. Đầu ngõ có hàng nước chè của một bà cụ đã dọn sẵn ấm, mấy cái ghế nhựa xanh úp trên mặt bàn ướt. Đối diện xưởng ông Tảo là lò bánh mì nhà bà Tơ, cửa cuốn kéo lên một nửa, mùi bánh nướng lan ra ngõ ấm sực, ngược hẳn với cái lạnh. Trước cửa xưởng đã có dây vàng giăng, hai chiến sĩ đứng gác, mấy người hàng xóm co ro dưới mái hiên nhìn vào.

Người đàn ông đội mũ kê pi đứng chờ tôi ở cửa.

– Thiếu tá Khởi, Phòng Cảnh sát hình sự. – Anh ta chìa tay. Bàn tay to, chai, nắm chặt. – Chị vào đi. Cái cô câm điếc kia cứ khóc, chúng tôi hỏi gì cũng lắc đầu.

– Em ấy không câm. – Tôi nói. – Em ấy là người Điếc. Em ấy nói bằng tay, nói nhanh hơn anh. Chỉ là các anh không nghe được.

Thiếu tá Khởi nhìn tôi, nhíu mày, rồi gật đầu, không nói gì. Tôi đi theo anh ta vào.

Xưởng khảm của ông Tảo là một căn nhà ống ba tầng, tầng một làm xưởng. Tôi đã vào đây hai lần, lần nào cũng thấy như bước vào trong một cái vỏ ốc. Trên tường treo kín những bức tranh khảm, cảnh làng, cảnh chùa, cảnh hoa sen, ánh xà cừ lóe lên xanh, hồng, tím mỗi khi người ta nghiêng đầu. Dọc hai bên là bàn thợ, mỗi bàn một ngọn đèn kẹp, một cái ê tô, mấy cái giũa, cái cưa lọng. Mùi sơn then, mùi keo, mùi bột vỏ trai xay, mùi gỗ. Dưới nền, bụi xà cừ lấp lánh như ai rắc kim tuyến.

Ông Tảo nằm cạnh cái bàn gỗ gụ lớn ở cuối xưởng, cái bàn ông vẫn ngồi làm. Ông nằm nghiêng, một tay vươn ra phía trước. Có vệt sẫm dưới đầu ông, đã khô thành màu nâu. Tôi nhìn một giây rồi quay mặt đi. Bốn mươi mốt tuổi, mười chín năm làm phiên dịch, đã đứng trong bao nhiêu phòng cấp cứu, tôi vẫn không quen được.

Xuyến ngồi trên cái ghế đẩu sát tường, hai tay ôm đầu gối. Thấy tôi, em đứng bật dậy, lao tới. Tôi ôm em. Người em run bần bật, áo khoác còn ướt sũng mưa, cái ba lô vải vẫn đeo trên vai.

Tôi để em khóc một lúc, rồi lùi ra, đứng sao cho em nhìn rõ tay tôi và thiếu tá Khởi nhìn rõ mặt tôi. Đó là chỗ đứng của người phiên dịch: giữa hai người, hơi lệch sang một bên, không bao giờ che mặt ai.

– Anh hỏi đi. – Tôi nói với Khởi. – Hỏi em ấy, đừng hỏi tôi. Nhìn vào mặt em ấy mà hỏi. Tôi dịch.

Khởi hắng giọng, quay sang Xuyến, có vẻ lóng ngóng.

– Cháu đến đây lúc mấy giờ?

Tôi ra dấu. Xuyến trả lời. Tôi nói.

– Sáu giờ rưỡi. Em đi xe khách từ Thái Bình về, xuống bến sáu giờ, đi xe ôm vào đây. Em về quê ba ngày, đám tang bà nội. Thầy cho nghỉ đến hết hôm nay. Em về sớm vì muốn làm nốt cái khung tranh.

– Cửa có khóa không?

– Cửa khép, không khóa. Em đẩy vào. Đèn xưởng còn sáng. Em thấy thầy.

– Cháu có động vào gì không?

Xuyến nhìn xuống. Tay em do dự một chút.

– Em chạm vào tay thầy. Tay thầy lạnh. Rồi em lùi ra, gọi chị Diệp. Em không biết gọi công an thế nào. Hàng xóm gọi giúp.

Khởi gật, hỏi tiếp. Thầy có kẻ thù không. Ai hay đến xưởng. Thầy có giữ tiền ở nhà không. Xuyến trả lời từng câu. Thầy hiền, ai cũng quý. Hay đến có bốn thợ là em, anh Tín, chị Mây, thằng Đông, ai cũng là người Điếc. Có anh Nhuận là người phiên dịch kiêm quản lý của thầy, người nghe. Có khách đến xem tranh. Có anh Tùng con thầy, mấy hôm nay ở Hà Nội, hôm em về quê còn thấy anh ấy ngồi uống nước với thầy, hai bố con viết giấy nói chuyện, mặt ai cũng nặng. Tiền thì thầy để trong cái hộp sắt ở ngăn kéo bàn.

Khởi ra hiệu cho một chiến sĩ. Người đó đeo găng tay mở ngăn kéo bàn gỗ gụ. Ngăn kéo trống, chỉ có mấy cái giũa, một cuộn băng dính, mấy tờ giấy nháp. Ngăn bên cạnh cũng bị kéo ra, giấy tờ xáo tung.

– Không có hộp sắt nào. – Người chiến sĩ nói.

Xuyến nhìn cái ngăn kéo trống, rồi đi về phía cuối xưởng, chỗ có cánh cửa gỗ dẫn vào kho. Khởi định ngăn, tôi giơ tay ra hiệu anh để em đi, em biết em tìm gì. Xuyến đứng ở cửa kho, nhìn vào, rồi quay lại, hai tay ra dấu, chậm, nặng.

BÌNH PHONG. TÁM TẤM. KHÔNG CÒN.

Tôi dịch. Khởi bước tới nhìn vào kho. Một căn phòng hẹp, kệ gỗ, mấy tấm vải bạt gấp đống ở góc, trên nền còn in bốn vệt chân đế hình chữ nhật trong lớp bụi.

– Bình phong gì? – Khởi hỏi.

– Bộ bình phong tám tấm thầy làm hai năm. Chợ quê ngày Tết. Thầy làm cho một ông khách sưu tầm. Thầy làm xong trước Tết. Em không biết bao nhiêu tiền. Anh Nhuận biết.

Khởi quay sang một chiến sĩ trẻ, dặn gọi ngay cho người tên Nhuận. Rồi anh quay lại nhìn cái bàn gỗ gụ, cái nơi ông Tảo ngã. Trên mặt bàn là một cái khung tranh nhỏ cỡ hai bàn tay, nền sơn then đen bóng, trên đó khảm tám con cá chép bằng xà cừ, con nào cũng uốn mình, vảy lấp lánh. Ở góc dưới bên phải, một khoảng trống hình con cá, đã khoét sẵn, đã phết keo, nhưng không có cá.

Xuyến cũng nhìn thấy. Tay em giơ lên, rồi khựng lại giữa chừng.

– Cái khung này là gì? – Tôi hỏi bằng tay, vì Khởi đang mải nhìn chỗ khác.

– Cửu ngư. Chín con cá. Thầy làm cho em, quà mừng em lên thợ cả. Thầy làm tám con rồi. Con thứ chín thầy cắt xong trước hôm em về quê, để trên bàn, chờ keo khô thì gắn. – Xuyến nhìn quanh mặt bàn, nhìn xuống nền, mắt đỏ hoe. – Con thứ chín đâu rồi.

Tôi dịch lại cho Khởi. Anh ta nhìn khoảng trống hình con cá, ghi một dòng vào sổ, mặt không đổi. Tôi đoán trong mắt anh ta, một con cá bằng vỏ trai to bằng đốt ngón tay, so với một bộ bình phong tám tấm và một hộp tiền, chẳng đáng gì.

Tám giờ kém mười, người tên Nhuận tới.

Tôi nghe tiếng xe máy dừng đầu ngõ, rồi tiếng bước chân chạy. Một người đàn ông ngoài sáu mươi, gầy, cao, tóc hoa râm cắt ngắn, đeo kính gọng đồi mồi, mặc áo khoác gió màu ghi, ướt sũng từ vai xuống tới gấu quần. Nước mưa chảy thành dòng từ tóc xuống gọng kính. Ông đứng ở cửa xưởng, nhìn vào, rồi đưa tay bụm miệng, rồi quay mặt đi.

– Anh Tảo ơi.

Giọng ông vỡ ra.

Tôi biết Tống Đình Nhuận. Ai trong nghề cũng biết. Hai mươi hai năm làm phiên dịch riêng cho ông Tảo, đứng cạnh ông trong mọi cuộc gặp khách, mọi buổi phỏng vấn truyền hình, mọi lễ trao giải. Báo chí hay gọi ông là cái miệng của nghệ nhân. Trong cộng đồng, người ta gọi ông bằng một tên ký hiệu: hai ngón tay gõ nhẹ vào gọng kính.

Thiếu tá Khởi ra đón ông. Hai người nói chuyện ở cửa. Tôi đứng cạnh Xuyến, nhìn. Đó là bệnh nghề của tôi, nhìn người ta nói nhiều hơn nghe người ta nói.

Ông Nhuận trả lời Khởi từng câu, giọng run nhưng mạch lạc. Mỗi khi nói tới chữ anh Tảo, ông lại đưa tay phải lên xoa xoa dái tai phải, một cử chỉ nhỏ, vô thức, như người ta gãi đầu. Khởi hỏi sao ông ướt thế, không mặc áo mưa à. Ông cười méo, nói cái áo mưa cánh dơi của ông rách toạc hôm qua, ông vứt rồi, chưa kịp mua cái mới.

Rồi ông quay sang Xuyến, giơ tay lên ra dấu hỏi em có sao không. Ông ra dấu bằng tay trái. Ông thuận tay trái, tôi nhớ ra, bàn tay chính của ông là tay trái, nhanh, gọn, cái giọng ký hiệu của người lớn lên giữa người Điếc từ bé. Xuyến gật đầu, không ra dấu lại.

Một chiến sĩ trẻ đi từ trong ra, cầm một cái túi nhựa niêm phong đựng điện thoại.

– Anh Khởi. Điện thoại của nạn nhân, trong túi quần. Không khóa màn hình. Cuộc gửi tin cuối cùng là mười giờ mười bốn phút tối qua. Một đoạn video mười một giây gửi cho một người tên Mẫn. Anh xem.

Khởi cầm cái túi, bấm qua lớp nhựa. Tôi đứng sau lưng anh ta, nghiêng đầu nhìn.

Đoạn video tối mờ, chỉ có ánh đèn kẹp bàn hắt từ một bên. Ông Tảo ngồi trước camera, gương mặt nửa sáng nửa tối, hai bàn tay ra dấu nhanh, gấp, các ngón tay nhòe đi trong ánh sáng yếu. Mười một giây. Rồi hết.

Tôi chưa kịp nhìn lại thì ông Nhuận đã bước tới, đứng sát bên Khởi, nhìn vào màn hình. Tôi thấy mặt ông tái đi một chút.

– Anh Khởi. – Ông nói, giọng khẩn khoản. – Để tôi. Tôi dịch cho anh Tảo hai mươi hai năm. Anh ấy ra dấu kiểu cũ, kiểu Hải Phòng ngày xưa, người khác không đọc được đâu. Anh cho tôi xem lại.

Khởi nhìn ông, rồi nhìn tôi. Tôi im. Ông Nhuận nói đúng. Người phiên dịch quen tay một người Điếc hai mươi năm thì đọc người đó như đọc chữ viết tay của người nhà. Tôi chỉ là người lạ.

Khởi bấm phát lại. Ông Nhuận nhìn chăm chăm. Mười một giây. Ông bảo phát lại lần nữa. Rồi lần nữa. Tay phải ông lại đưa lên dái tai, xoa, xoa.

Rồi ông nói, chậm, giọng khàn đặc:

– Anh ấy nói: Mẫn ơi. Thằng Tùng đang tới.

— Hết chương 1 —

Mục lục Mười một giây không có tiếng

  1. 1Bàn tay đập vào màn hình11 phút đọc
  2. 2Mười một giây9 phút đọc
  3. 3Người làm chứng bên lò bánh mì9 phút đọc
  4. 4Bức bình phong không bị cướp10 phút đọc
  5. 5Số đếm của người Hải Phòng9 phút đọc
  6. 6Ông Mẫn ở xóm thuyền10 phút đọc
  7. 7Lời khai của người phiên dịch10 phút đọc
  8. 8Bàn tay trái dưới ngọn đèn9 phút đọc
  9. 9Áo mưa cánh dơi9 phút đọc
  10. 10Con cá chép thứ chín10 phút đọc

Về truyện này

Mười một giây không có tiếng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →