Chương 7: Bốn ngày trong kho củi
Bốn ngày bà ở trong kho củi, bà học được một điều mà cả đời ông ngoại cố con dạy chữ cũng không dạy: người ở dưới thấp nhìn thấy nhiều hơn người ở trên cao, chỉ là chẳng ai hỏi họ.
Sáng nào cái Bống cũng ra chuồng gà nhặt trứng. Nhặt xong, nó đứng nép sau vách kho củi, đẩy qua ô thông gió một nắm cơm nắm, có khi kèm mấy miếng thịt kho, có khi một quả chuối. Quản gia Tiêu chỉ cho bà mỗi ngày một bát cơm nguội với mấy cọng rau. Không có cái Bống, bà đói lả.
– Chị cứ ăn. – Nó thì thào. – Em bớt phần của em. Em béo, nhịn mấy bữa chẳng sao.
Chiều nào thằng Tũn cũng gánh nước qua vườn sau, dừng lại cạnh kho củi đổi vai, nói vọng vào mấy câu như nói với đôi thùng nước. Nhờ nó, bà biết ngoài kia đang xảy ra chuyện gì.
Ngày thứ nhất, Tũn kể cô Hương đã đến. Mười sáu tuổi, mặt hoa da phấn, áo lụa hồng, mang theo hai đứa hầu. Nhị phu nhân dẫn sang Thọ Xuân đường, giới thiệu với cụ. Cụ bảo cô Hương đọc một lá thư. Cô đọc, giọng thanh như chim. Đọc xong cụ đưa cổ tay ra bảo gõ. Cô không hiểu, gõ lung tung. Cụ bảo đọc lại. Đọc lại ba lần, lần nào gõ cũng sai số.
Ngày thứ hai, Tũn kể đêm qua nó gánh nước muộn cho bếp ngâm gạo nếp làm bánh giỗ, đi qua hiên gian giữa thì thấy cửa tủ lớn mở toang, đèn thắp. Ông Tiêu và chị Hiền bên Nhị phòng đang lau đồ thờ. Lúc nó gánh chuyến sau quay lại thì không thấy ai, cửa tủ vẫn mở. Một lúc lâu sau, nó thấy chị Hiền ôm một cái hộp gỗ sơn then từ phía dãy Nhị phòng đi về, đặt lại vào tủ.
– Cái hộp to bằng này này. – Tũn giơ hai tay ra ngoài ô thông gió, ước chừng. – Có dải giấy đỏ dán ngang nắp.
Dải giấy niêm phong. Bà biết nó là gì.
Đêm ấy bà không ngủ. Bà nghĩ phải báo cho cụ. Nhưng bà bị khóa trong kho củi, chìa khóa ở thắt lưng ông Tiêu. Bà không viết được thư, vì cụ không đọc được chữ, mà ai đọc thư cho cụ? Cô Hương? Bà không nhờ được thầy La, vì Đại phu nhân đã cấm anh ta bén mảng đến Thọ Xuân đường từ hôm ngọc bội mất.
Gần sáng, khóa cửa kho củi lách cách. Bà tưởng ông Tiêu mang cơm. Cửa mở hé, ánh đèn lồng rọi vào, và người bước vào là Đại phu nhân, một mình, áo choàng lông khoác ngoài áo ngủ.
Bà quỳ dậy trên đống rơm. Đại phu nhân không bảo bà đứng lên. Bà ta treo đèn lồng lên một cái đinh trên vách, nhìn quanh gian kho đầy củi, nhăn mũi vì mùi phân gà.
– Mày trả cái vòng vàng cho con Thắm. – Bà ta nói, không vòng vo. – Con Hến ngày trước giữ cái vòng của tao, còn mày trả lại. Đứa trả lại một cái vòng vàng thì không đi ăn cắp một miếng ngọc. Tao không ngu.
Bà ngẩng lên.
– Thế thì tại sao ngọc bội ở trong hòm mày? – Đại phu nhân hỏi. – Ai bỏ vào?
Bà im lặng. Bà nghĩ đến mùi bồ kết, đến hai bàn tay nắm chặt vạt áo vàng.
– Con không biết, thưa phu nhân.
– Mày biết. – Đại phu nhân nhìn bà, đôi môi mỏng mím lại. – Mày biết mà mày không nói. Mày che cho ai?
Bà vẫn im. Đại phu nhân đứng thêm một lát, rồi ngồi xuống một khúc củi, như người đột nhiên mệt.
– Mày tưởng tao ác lắm phải không? Gả con gái cho ông già góa vợ. – Bà ta nói, giọng khác hẳn, khàn đi. – Tao lấy chồng năm mười sáu tuổi, chồng tao đi trấn biên mười năm nay, một năm về một lần. Tao một mình giữ cái phủ này, một mình nuôi thằng Thừa An ăn học, một mình đứng giữa bà cụ và con em dâu lúc nào cũng cười. Tao biết đàn bà không có chỗ dựa thì sống thế nào. Ông Thị lang già, nhưng có quyền. Con Thư về đó, không ai dám bắt nạt nó.
– Thưa phu nhân. – Bà nói. – Chiều nào cô Ba cũng ra giếng sau ngồi khóc.
Đại phu nhân không đáp. Ngọn đèn lồng trên vách chao nhẹ.
– Nó khóc với mày à?
– Dạ. Cô Ba bảo cô Ba chỉ muốn có người hỏi cô một câu, cô có ưng không.
Đại phu nhân ngồi im. Ngọn đèn lồng cháy hết một đốt bấc. Rồi bà ta đứng dậy, cầm đèn lồng, đi ra cửa. Đến cửa, bà ta dừng lại, không quay đầu.
– Tao chưa bao giờ được ai hỏi câu ấy. – Bà ta nói. – Cả bà cụ cũng không hỏi tao.
Cửa đóng lại. Khóa lách cách. Bà ngồi trong bóng tối, nghe tiếng chân Đại phu nhân xa dần trên lối gạch, chậm hơn lúc đến.
Sáng ngày thứ ba, khi cái Bống đẩy nắm cơm qua ô thông gió, bà nắm lấy tay nó.
– Bống, hôm nay ai dâng trà cho cụ?
– Em ạ. Chị Thắm bị phu nhân phạt, em lên thay.
– Lúc dâng trà, em làm thế này. – Bà kéo tay nó qua ô cửa, lật ngửa cổ tay nó lên, lấy ngón trỏ gõ ba cái. – Gõ vào cổ tay cụ ba cái, nhè nhẹ. Rồi em ghé tai cụ nói nhỏ: chị Xoan bảo, cái hộp sơn then trong tủ đã ra khỏi tủ một đêm, sang dãy Nhị phòng rồi về. Chỉ thế thôi.
Bống nhìn bà, mắt tròn xoe.
– Em sợ.
– Chị biết. – Bà nói. – Cụ không mắng em đâu. Cụ thương người gõ đúng.
Chiều hôm ấy, Bống ra chuồng gà sớm hơn mọi bữa. Nó áp mặt vào ô thông gió, thở hổn hển như vừa chạy.
– Em làm rồi! Em gõ ba cái, cụ giật mình. Em nói xong, cụ nắm tay em, bóp một cái. Rồi cụ bảo em nhắn lại chị hai câu.
– Câu gì?
– Câu thứ nhất: "Biết rồi." – Bống nhíu mày cố nhớ. – Câu thứ hai: "Hôm rằm, ai đọc thì con cũng phải nghe. Đọc đến đâu, đếm đến đấy."
Bà ngồi xuống đống rơm. Biết rồi. Lại là biết rồi. Ai đọc thì con cũng phải nghe. Bà bị khóa trong kho củi, làm sao mà nghe?
Bà đã gần như mất hết hy vọng thì tối ngày thứ ba, có tiếng chân rón rén đến bên vách kho củi. Không phải bước chân nặng nề của thằng Tũn, không phải bước chân lạch bạch của cái Bống. Nhẹ, ngập ngừng. Rồi một giọng con gái, run run:
– Chị... chị Xoan có ở trong đấy không?
Bà ghé mắt ra ô cửa. Một cái đèn lồng nhỏ, một khuôn mặt tròn trắng bệch, áo lụa hồng. Cô Hương.
– Chị là người đọc trước phải không? – Cô Hương hỏi, nhìn quanh như sợ có người. – Em... em hỏi chị một việc. Chỉ một việc thôi.
– Cô cứ hỏi.
– Cái gõ ấy. Cụ bảo đọc một dòng gõ một cái. Em đọc thì em đọc trơn, đọc liền một hơi, đến lúc gõ thì không biết đâu là hết dòng. Cụ bảo em đọc lại, đọc lại, đến lần thứ năm thì em khóc. Cô em bảo hôm rằm em phải đọc di huấn trước cả họ. Em sợ lắm. Em mà đọc không xong, cô em mắng, mẹ em cũng mắng.
Bà nhìn cô Hương qua ô cửa. Cô bé chỉ mới mười sáu, hai tay nắm cán đèn lồng run bần bật. Bà không thấy một kẻ thù. Bà thấy một con bé bị người lớn đẩy ra đứng giữa sân.
Bà có thể bảo nó: cứ gõ đại đi. Bà có thể bảo nó: cụ già lẩm cẩm, gõ thế nào cũng được. Thế là hôm rằm nó gõ sai, cụ không tin nó, và nó sẽ đi như ba đứa trước.
Nhưng bà nhớ câu cụ nhắn. Ai đọc thì con cũng phải nghe.
– Cô Hương. – Bà nói. – Cô đọc chữ Nôm hay chữ Hán?
– Dạ, cả hai. Bố em dạy.
– Thế cô đừng nhìn câu. Cô nhìn dòng. Mỗi dòng trên giấy là một hàng chữ dọc, từ trên xuống dưới. Đọc hết hàng ấy, chưa cần biết câu đã hết hay chưa, cô dừng lại, gõ một cái, rồi mới sang hàng bên trái. Câu dài thì vắt sang hàng sau, kệ nó. Cụ không đếm câu. Cụ đếm hàng.
Cô Hương mở to mắt.
– Thế thôi ạ?
– Thế thôi. Nhưng không được bỏ hàng nào. Kể cả hàng chỉ có một chữ. Kể cả hàng trắng ở giữa, nếu người viết cố ý để trắng.
Cô Hương lẩm bẩm nhắc lại. Rồi cô thò cổ tay vào ô thông gió.
– Chị gõ thử cho em xem.
Bà đọc thuộc lòng một bài thơ ông ngoại cố con hay ngâm, đọc như đọc trên giấy, hết mỗi hàng thì gõ một cái lên cổ tay cô bé. Cô Hương đếm theo, mấp máy môi. Rồi cô đọc lại bài ấy, gõ lên cổ tay bà. Lần đầu sai một cái. Lần thứ hai đúng.
– Được rồi! – Cô reo lên khẽ, rồi tự bịt miệng mình.
– Cô Hương. – Bà nói, khi cô đã quay đi. – Hôm rằm, tờ giấy người ta đưa cho cô có bao nhiêu hàng, cô gõ đúng bấy nhiêu. Dù có ai bảo gì, cô cứ gõ đúng. Cụ sẽ biết cô là người thật thà.
Cô Hương gật đầu, cầm đèn lồng chạy đi. Bà nhìn ánh đèn nhỏ chao qua những gốc nhãn, rồi khuất.
Đêm ấy trời trở rét. Gió bấc luồn qua ô thông gió, bà rúc sâu vào đống rơm. Gần canh ba, lại có tiếng chân.
Lần này là tiếng chân rất nhẹ, nhẹ như người đi chân trần. Nó dừng lại ngay trước cửa kho, không ở bên vách. Có tiếng tay ai đặt lên cánh cửa gỗ. Rồi có tiếng thở. Rồi một tiếng nấc, nén lại, như tiếng người cắn vào tay áo cho khỏi bật thành tiếng.
Bà ngồi dậy, bò ra sát cửa. Qua khe hở giữa hai tấm ván, bà ngửi thấy một mùi thơm mà bà quen.
Mùi bồ kết.
— Hết chương 7 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe