Chương 5: Cụ nhìn thấy đèn
Bà đứng sững bên án thư, tay vẫn còn đặt trên chân đèn.
Cụ bà không quay đi. Cụ để mặt mình hướng về ngọn đèn, hai con mắt đục mờ phản chiếu một đốm vàng nhỏ ở giữa, như hai giọt nước mưa đọng trên lá sen.
– Con lấy tay che đèn đi. – Cụ nói.
Bà đưa bàn tay ra, che trước ngọn lửa. Bóng tay bà đổ lên mặt cụ.
– Tối. – Cụ nói. – Bỏ ra.
Bà bỏ tay ra.
– Sáng.
Bà lùi lại một bước. Hai đầu gối bà tự nhiên quỳ xuống nền gạch.
– Cụ... cụ nhìn thấy?
– Nhìn thấy như người ta nhìn qua một chậu nước vo gạo. – Cụ nói. – Thấy sáng, thấy tối. Thấy một cái bóng người đứng, một cái bóng người ngồi. Áo màu sẫm thì thấy là một mảng sẫm, áo màu sáng thì thấy là một mảng sáng. Không thấy mặt. Không đọc được chữ.
Cụ đưa tay ra, lần tìm, nắm lấy tay bà, kéo bà ngồi lên mép sập.
– Ba năm trước, khi mộng mới kéo, ta không thấy gì thật. Tối như hũ nút. Được một năm thì mắt trái hé ra được chút ánh sáng. Ta không nói với ai. – Cụ nói chậm, như kể chuyện ai khác. – Con biết vì sao không?
Bà lắc đầu, rồi nhớ ra cụ không thấy cái lắc đầu, nói khẽ:
– Dạ không.
– Vì từ ngày ta mù, cả phủ này nói chuyện trước mặt ta như nói trước mặt cái cột nhà. – Cụ cười, cái cười khô như lá chuối héo. – Đứa con dâu cả đứng ngay bên sập mà nhéo tay con gái nó, bảo im mồm. Đứa con dâu thứ ngồi cạnh ta mà đưa mắt cho chồng nó. Thằng Tiêu đứng ở cửa mà lắc đầu khi ta hỏi sổ sách. Ta không thấy mặt, nhưng ta thấy bóng người nghiêng đi, thấy tay áo động. Ta nghe. Người ta tưởng mù thì điếc luôn.
Ngoài ao, ếch kêu từng tiếng, thưa, lạnh.
– Thế ba người đọc trước, thưa cụ?
– Đứa thứ nhất, con dâu cả đưa nó cái vòng vàng. Nó đọc sổ Nhị phòng, chỗ lỗ thì đọc vội, chỗ lãi thì đọc chậm. Ta không giận chuyện ấy. Nhưng có một hôm nó đọc thư thằng Khải, nó bỏ qua một dòng. – Cụ giơ cổ tay trái lên. – Thư mười ba dòng, nó gõ mười hai cái. Ta hỏi lại, nó bảo thư chỉ có thế. Hôm sau con dâu cả nói nó ăn cắp, ta để nó đi.
Bà nhớ cái tráp bụi dưới gầm giường. Chiếc vòng vàng thứ hai. Người ta đuổi con bé đi vội đến mức nó không kịp mang theo đồ, và nó cũng không dám mang theo chiếc vòng.
– Đứa thứ hai, ta nói gì với nó lúc chỉ có hai người, chiều hôm ấy con dâu thứ đã biết. Ta để nó đi. – Cụ nói tiếp. – Đứa thứ ba ngoan, thật thà, gõ đủ từng dòng. Nhưng nó đọc thư thằng Khải quý trước, đến chữ ba trăm lạng, nó đọc trơn tuột. Ta hỏi chữ ấy có lạ không, nó bảo không. Giấy dó bị cạo, đứa con gái làng giấy nhìn thấy ngay. Đứa con gái phố thì không. Ta không trách nó. Nhưng ta không dùng được nó.
– Cụ biết chữ ấy bị cạo từ trước?
– Hai năm nay, thư nào thằng Khải cũng viết ba trăm. Trước đó, mười năm liền, thư nào cũng năm trăm. Lương bổng của nó không giảm một đồng, ta đã nhờ người quen ở bộ Binh hỏi. – Cụ nói. – Hai trăm lạng mỗi quý đi đâu, ta không cần mắt cũng đoán được. Nhưng đoán thì không bắt ai được.
Bà nhớ đến ông Nhị gia say rượu ngồi trên bậc thềm nhà ngang. Hai nghìn lạng. Cái hiệu lụa. Cái ruộng Đông Ngạn.
– Cụ ơi, con xin hỏi một câu. Thế còn lọ thuốc...
– Ta biết. – Cụ nói, như trưa hôm trước. – Đứa hầu bên Nhị phòng tráo, thằng Tiêu mở tủ. Con dâu thứ sợ ta sáng mắt. Ta sáng mắt thì ta đọc sổ được, ta nhìn thấy mặt người. – Cụ ngừng một chút. – Nhưng con dâu thứ không ác đến thế. Nó chỉ dùng lá ớt cho ta đau, cho thầy thuốc bị đuổi. Nó muốn ta mù thêm một mùa nữa. Nó không muốn ta chết.
– Thế sao cụ không...
– Vì chưa đến lúc nhấc đó. – Cụ nói, và bà giật mình, vì đó chính là câu thầy La nói bên giếng.
Cụ đặt hai bàn tay lên đùi, ngón cái xoa vào nhau, như người lần một tràng hạt không có.
– Bốn năm trước, khi mắt bắt đầu mờ, ta tự tay viết di huấn. Ai giữ ấn phủ sau khi ta mất, hiệu lụa giao ai, ruộng Đông Ngạn giao ai, con cháu dựng vợ gả chồng theo phép gì. Viết xong, ta niêm phong, cất trong cái hộp lớn trong tủ gỗ ở gian giữa. Chìa khóa tủ thằng Tiêu giữ. – Cụ nói. – Rằm tháng Chạp năm nay, giỗ cụ ông, cả họ về từ đường. Ta sẽ cho mở di huấn trước bàn thờ.
– Sao cụ không đợi...
– Đợi ta chết à? – Cụ cười. – Ta muốn nhìn thấy, dù chỉ là cái bóng, đứa nào đứng yên, đứa nào nghiêng đi, khi tờ giấy ấy được đọc lên. Ta muốn nghe nó được đọc bằng một giọng ta tin.
Cụ đưa cổ tay trái ra, lật ngửa.
– Mười hai dòng. Ta viết mười hai dòng. Ta nhớ.
Bà nhìn cổ tay mỏng như giấy bản, những mạch máu xanh nổi lên. Một tháng nay bà đã gõ lên đó hàng nghìn cái. Bà vẫn tưởng đó là thói quen của một bà già mù muốn có gì đó để giữ cho mình khỏi ngủ gật.
– Ba đứa trước, đứa nào cũng có một lần gõ thiếu, hay một lần đọc trơn qua chỗ đáng dừng. – Cụ nói. – Con là đứa đầu tiên gõ đủ. Là đứa đầu tiên dừng lại ở chữ bị cạo, dù không ai bảo con dừng. Là đứa đầu tiên trả lại cái vòng vàng mà không mang đi khoe với ta.
– Cụ biết con trả vòng?
– Cái Thắm khóc ở hiên Đại phòng cả buổi chiều, vì phu nhân nó mắng nó làm hỏng việc. Vú Thìn kể. – Cụ quay mặt về phía vú Thìn đang ngủ gà gật dưới chân sập. – Vú điếc, nên ai cũng nói chuyện trước mặt vú. Mà vú đọc được môi người. Bốn mươi năm nay vú đọc môi cho ta.
Bà nhìn vú Thìn. Bà già lưng còng ấy đang ngáy khe khẽ, miệng còn dính vụn lạc.
Cụ im một lúc, rồi hỏi một câu bà không ngờ:
– Cái Thư bây giờ trông thế nào?
– Dạ?
– Ba năm rồi ta không thấy mặt nó. Năm ta mù, nó mười bốn, còn lẻo khoẻo như cái que, răng cửa còn sứt một cái. Bây giờ nó thế nào?
Bà ngồi trên mép sập, nhìn ngọn đèn, cố nhớ.
– Dạ, cô Ba cao hơn con nửa cái đầu. Mặt tròn, má lúc nào cũng hồng như vừa chạy. Mắt to, hơi xếch, lúc giận thì mắt đỏ lên trước rồi mới khóc. Răng cửa liền rồi ạ. Dưới mắt trái có một nốt ruồi nhỏ, khóc thì nước mắt chảy qua đúng chỗ ấy. Tóc dày, dài quá thắt lưng, cô ấy hay gội bồ kết nên lúc nào cũng thơm. Cô ấy đọc thơ thì môi mấp máy theo, như người đang ăn kẹo.
Cụ nghe, khóe miệng nhích lên.
– Nốt ruồi dưới mắt trái. – Cụ nói. – Giống ông nội nó. Ông ấy bảo nốt ruồi ấy là nốt ruồi khóc, cả đời ông chưa khóc lần nào.
Rồi cụ hỏi về Đại phu nhân, Nhị phu nhân, ông Nhị gia, quản gia Tiêu, cả cái Thắm, cái Hiền. Bà tả từng người. Áo màu gì, tóc vấn kiểu gì, lúc đứng hay để tay ở đâu, lúc nói dối thì nhìn đi đâu. Bà không biết mình đã để ý nhiều đến thế. Cụ nghe hết, thỉnh thoảng gật đầu, như người đối lại sổ sách với một trí nhớ cũ.
– Thằng thầy thuốc thì sao? – Cụ hỏi cuối cùng.
Bà ngập ngừng lâu hơn một chút.
– Dạ, đen. Gầy. Răng khểnh. Hát sai lời.
Cụ cười thành tiếng, lần đầu bà nghe cụ cười.
– Con tả cái Thư ba mươi câu, tả nó bốn câu. – Cụ nói. – Ta mù chứ ta chưa lẩm cẩm.
Bà đỏ mặt, may mà cụ không thấy. Rồi bà nghĩ lại: cụ thấy được ánh đèn, biết đâu cụ cũng thấy được một mảng má đỏ lên trong ánh đèn. Bà cúi đầu xuống thật thấp, cho chắc.
– Từ giờ đến rằm, con đừng nói với ai ta thấy được ánh sáng. Kể cả thằng thầy thuốc. Kể cả cái Thư. – Cụ nói. – Cả phủ này chỉ có ba người biết: ta, vú Thìn, và con.
– Dạ.
– Còn một điều nữa. – Cụ cất cái hộp nhỏ xuống gầm sập. – Đến rằm, nếu có ai không muốn con đọc, thì người ấy sẽ tìm cách. Con giữ mình.
Bà về phòng khi trời đã sang canh tư. Bà nằm trên giường tre, mắt mở thao láo nhìn lên mái ngói. Bà nghĩ đến ba đứa con gái trước, một đứa ăn cắp, một đứa lẻo mép, một đứa đọc sai, cả ba đều bị đuổi đi mà không ai nói cho chúng biết vì sao. Bà thương chúng. Rồi bà sợ cụ. Rồi bà lại thương cụ, ba năm ngồi trong bóng tối nghe con cháu mình nói chuyện như nói trước cái cột nhà.
Bà thiếp đi lúc gà gáy. Trong mơ, bà thấy mình ngồi gõ lên cổ tay ai đó, gõ mãi, gõ mãi mà tờ giấy vẫn chưa hết dòng.
Sáng hôm sau, bà bị đánh thức bởi tiếng la hét ở dãy Đại phòng. Tiếng Đại phu nhân the thé vọng qua ba lớp tường:
– Ngọc bội! Cái ngọc bội của họ Châu nhà tôi! Đứa nào dám lấy? Lục! Lục hết cho tôi! Lục từ phòng người hầu trở xuống!
Bà ngồi dậy. Ngoài cửa sổ, chậu hoa mười giờ vẫn ở chỗ cũ. Nhưng đất trong chậu đã bị xới lên một góc, rồi vun lại vội vàng, chưa kịp khô.
— Hết chương 5 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe