Chương 2: Cô Ba và cái hòm gỗ
Sổ hiệu lụa Thuận Phát dày bằng ba đốt ngón tay, bìa bọc vải nâu, gáy khâu chỉ gai. Sáng hôm sau, nó nằm trên án thư trước mặt bà, và trong Thọ Xuân đường có năm người ngồi nghe.
Cụ bà ngồi trên sập. Vú Thìn ngồi dưới chân sập bóc lạc. Nhị phu nhân ngồi bên trái, áo lụa hoa đào, cười hiền. Đại phu nhân ngồi bên phải, áo gấm lam, không cười. Ở cửa, quản gia Tiêu đứng chắp tay.
Hiệu lụa Thuận Phát ở phố Hàng Đào là của phủ, nhưng ba năm nay giao cho Nhị phòng trông. Hết tháng Chín, theo lệ, sổ chín tháng phải đọc cho cụ nghe. Ba năm trước cụ còn tự giở sổ, giờ cụ nghe.
Bà mở trang đầu. Tháng Giêng, nhập tơ của làng Vân Hà ba trăm cân, giá mười hai đồng một lạng tơ. Bán ra lụa trơn bốn mươi tấm, the hoa mười hai tấm. Trả công thợ dệt. Trả tiền thuê kho. Bà đọc một dòng, gõ một cái lên cổ tay cụ. Một dòng, một cái.
Bà đọc đều. Không nhanh, không chậm. Chỗ ghi lãi bà đọc như chỗ ghi lỗ, chỗ ghi lỗ bà đọc như chỗ ghi lãi. Bà nhớ chiếc vòng vàng trong hòm, nhớ chiếc vòng vàng trong cái tráp bụi dưới gầm giường.
Đến tháng Tư, Đại phu nhân đặt chén trà xuống bàn, hơi mạnh tay.
Đến tháng Sáu, Đại phu nhân hắng giọng.
Đến tháng Tám, ghi lỗ một trăm hai mươi lạng vì một thuyền tơ bị đắm ở cửa sông. Bà đọc dòng ấy đúng như mọi dòng khác. Đại phu nhân nhìn bà, đôi môi mỏng mím lại thành một đường chỉ.
Nhị phu nhân thì vẫn cười, thỉnh thoảng gật gù, có lúc với tay lấy miếng mứt gừng trong đĩa đưa cho vú Thìn. Vú Thìn nhận, cười móm mém, nói cảm ơn to đến mức con chim sẻ đậu ngoài cửa sổ giật mình bay mất.
Sổ có bốn trăm mười hai dòng. Bà đọc mất gần hai canh giờ. Đến dòng cuối thì cổ bà khô khốc, ngón tay trỏ tê dại vì gõ.
Cụ bà ngồi im suốt buổi, không hỏi câu nào. Đến khi bà gấp sổ lại, cụ mới hỏi một câu:
– Tháng Chín. Tiền thuyền buôn mang về.
Bà giở lại trang tháng Chín, dò ngón tay xuống.
– Dạ, tháng Chín, ngày mười tám, nhận của thuyền buôn từ trấn Bắc Ải ba trăm lạng bạc, nộp vào quỹ phủ.
– Ba trăm.
– Dạ, ba trăm.
Cụ gật đầu, phẩy tay. Nhị phu nhân đứng dậy trước, cầm cuốn sổ ôm vào lòng, cảm ơn bà rối rít. Đại phu nhân đứng dậy sau, đi ngang qua bà, nói khẽ một câu không ai khác nghe được:
– Con nhà quê cứng cổ.
Chiều hôm ấy, bà mang chiếc vòng vàng sang dãy nhà Đại phòng, trả lại cho Thắm. Thắm cầm cái gói giấy đỏ, mặt tái đi rồi đỏ lên, không nói được câu nào. Bà không trả chiếc vòng thứ hai, chiếc vòng trong cái tráp bụi. Bà không biết của ai, và bà nghĩ có ngày nó sẽ cần đến.
Bà trở về theo lối vườn sau. Phủ họ Phương có một cái vườn rộng ở phía tây, trồng nhãn, trồng bưởi, có một cái giếng đá cũ thành rêu phủ kín. Cạnh giếng có một cái ghế đá. Trên ghế đá có một cô gái đang ngồi đọc sách, hai chân co lên, váy lụa vàng nhạt bị gió thổi tung một góc.
Cô gái ngẩng lên. Mặt tròn, mắt to, môi hơi trề như đứa trẻ hờn. Thấy bà, cô ta vội nhét quyển sách vào cái giỏ mây để bên cạnh, rồi nhìn kỹ lại, thấy chỉ là một con bé áo nâu thì thở phào.
– Chị là người đọc mới của bà nội phải không? – Cô ta hỏi.
– Dạ.
– Nghe nói sáng nay chị đọc sổ hiệu lụa mà mẹ tôi tức đến không ăn được cơm. – Cô ta cười khúc khích. – Tôi là Thư. Phương Ngọc Thư. Người ta gọi cô Ba.
Cô Ba Ngọc Thư là con gái út của ông Quận công và Đại phu nhân, năm ấy mười bảy tuổi. Cô biết chữ, thuộc thơ, chữ viết đẹp hơn cả anh trai. Nhưng Đại phu nhân không cho cô đọc gì ngoài Nữ huấn và kinh. Thơ thì cấm, truyện thì cấm, nhất là những thứ có trai có gái. Cô Ba đọc lén, giấu sách trong giỏ mây, đọc ở cạnh giếng vì đó là chỗ duy nhất trong phủ không ai đến.
Cô kéo bà ngồi xuống ghế đá, lôi quyển sách ra. Truyện thơ Nôm, bìa sờn, giấy vàng. Cô giở đến một đoạn đã gấp mép, bảo bà đọc. Bà đọc. Cô nhắm mắt nghe, môi mấp máy theo.
– Chị đọc hay thật. – Cô nói khi bà dừng. – Như nghe hát. Tôi tự đọc thì chỉ nghe thấy tiếng mình.
Từ hôm ấy, chiều nào bà cũng ra giếng ngồi với cô Ba nửa canh giờ. Cô đọc cho bà nghe những bài thơ cô thích, bà đọc cho cô nghe những đoạn truyện cô chưa đọc tới. Cô kể chuyện phủ, chuyện ai ghét ai, ai sợ ai. Bà kể chuyện làng giấy, chuyện xeo giấy, chuyện cái cối giã vỏ dó kêu thình thịch suốt đêm làm cả xóm không ai ngủ được mà cũng không ai dám than, vì ai cũng sống nhờ nó.
Cô Ba cười, bảo phủ này cũng có một cái cối như thế, chỉ là không kêu thành tiếng.
Có một hôm, cô nhìn quanh rồi hạ giọng:
– Chị Xoan, tôi nhờ chị một việc. Thắm với mấy đứa hầu của mẹ tôi hay lục phòng tôi. Tôi có mấy quyển sách không dám để trong phòng. Chị cho tôi gửi trong hòm của chị được không?
Bà ngần ngừ. Nhưng cô Ba nhìn bà bằng đôi mắt to tròn như con nai con, và bà nhớ đến đứa em gái ở nhà.
– Dạ được. Chìa khóa hòm em để dưới chậu hoa mười giờ ngoài cửa sổ. Cô Ba cần thì cứ lấy.
Cô Ba ôm chầm lấy bà. Tóc cô thơm mùi bồ kết.
Ở phủ, ngoài cô Ba, bà còn quen thêm hai đứa nữa. Không phải vì bà khéo, mà vì bà biết chữ.
Thằng Tũn mười bốn tuổi, gánh nước cho cả phủ, ngày hai chục gánh từ giếng sau lên bếp, lên các dãy nhà. Mẹ nó ở quê, đầu tháng nào cũng nhờ ông đồ trong làng viết hộ một lá thư gửi lên. Tũn không biết chữ, trước đây phải mang thư ra đầu phố nhờ ông thầy bói đọc, mất hai đồng một lần. Một chiều nó đứng lấp ló ngoài cửa phòng bà, tay cầm lá thư nhàu, mãi không dám gọi.
Bà đọc cho nó nghe. Mẹ nó bảo năm nay lúa được, con lợn nái đẻ chín con, con bé em đã biết đi chợ một mình. Mẹ nó dặn đừng ăn quà vặt, để dành tiền. Cuối thư có một dòng ông đồ viết thêm, chắc theo lời mẹ nó: Tết con có về được không, mẹ để phần con cái bánh chưng to nhất.
Tũn nghe đến dòng ấy thì quay mặt đi, đưa tay áo quệt mũi.
Từ hôm ấy, hễ bà ra giếng sau là đã thấy một thùng nước đầy múc sẵn để rửa mặt.
Cái Bống ở bếp thì mười sáu, béo tròn, nói nhiều, nấu ăn giỏi nhất phủ mà không được nấu, chỉ được rửa bát với nhóm lửa. Nó mê nghe truyện. Tối nào bà cũng xuống bếp lấy nước nóng, ngồi lại đọc cho nó nghe một đoạn truyện Nôm trong cái tráp bỏ quên. Nó vừa nghe vừa cọ nồi, đến đoạn hay thì quên cả cọ, cái nồi ngâm đến nguội tanh. Bếp trưởng mắng, nó cũng không sợ.
– Chị Xoan, cái phủ này người ta nói gì trên nhà trên, sớm muộn cũng chạy xuống bếp. – Bống bảo bà, khi đã thân. – Ở bếp thì cái gì cũng nghe thấy. Có điều chẳng ai hỏi bọn em.
Bà nhớ câu ấy.
Rồi một chiều cuối tháng Mười, cô Ba không đọc thơ. Cô ngồi trên ghế đá, hai tay ôm đầu gối, nhìn xuống lòng giếng.
– Mẹ tôi định gả tôi rồi. – Cô nói. – Cho quan Thị lang Vũ ở bộ Lại. Ông ấy góa vợ năm ngoái. Bốn mươi lăm tuổi. Có ba đứa con, đứa lớn nhất bằng tuổi tôi.
Bà không biết nói gì.
– Mẹ tôi bảo lấy được quan Thị lang thì anh tôi sau này đi thi, ra làm quan, có người đỡ. Mẹ tôi bảo đàn bà lấy chồng là để giữ nhà, không phải để đọc thơ. – Cô Ba cười, mà nước mắt chảy. – Chị Xoan, bà nội tôi còn sống thì việc gả cháu phải bà nội gật. Bà nội tôi giờ không nhìn thấy gì, nghe ai nói gì thì tin nấy.
– Cô Ba, cụ không phải người nghe ai nói gì thì tin nấy.
– Chị mới đến một tháng. – Cô Ba lắc đầu. – Chị không biết đâu.
Tối hôm ấy, cả phủ ăn cơm ở nhà giữa, như lệ mỗi tháng một lần. Cụ bà ngồi đầu mâm, vú Thìn ngồi cạnh gắp thức ăn cho cụ. Bà đứng hầu phía sau, như người đọc trước kia.
Giữa bữa, Đại phu nhân đặt đũa xuống.
– Thưa mẹ, con có một việc. – Bà ta nói, giọng rõ ràng, như đã nghĩ trước từng chữ. – Con đã cho người lên phủ Thuận mời một thầy thuốc chữa mắt. Thầy họ La, trẻ, nhưng người ta đồn đã chữa sáng mắt cho cả chục người kéo mộng như mẹ. Thầy nói ba tháng có thể cho mẹ nhìn thấy lại. Mai thầy đến.
Cả mâm cơm im bặt.
Bà đứng sau lưng cụ nên nhìn thấy rất rõ. Ở phía bên kia mâm, cái chén sứ hoa lam trong tay Nhị phu nhân nghiêng đi, nước canh sánh ra một vệt trên tay áo lụa hoa đào. Bà ta vội vàng đặt chén xuống, lấy khăn thấm, vẫn cười.
– Thế thì tốt quá. – Nhị phu nhân nói. – Chị cả thật có hiếu.
Cụ bà không nói gì. Cụ gắp một miếng đậu phụ rán, nhai chậm rãi. Rồi cụ đưa tay trái ra sau lưng, lần tìm, chạm vào tay bà.
Cụ gõ một cái lên cổ tay bà. Chỉ một cái.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe