Chương 10: Mặt người
Thằng Tũn kể lại, lúc nó chạy đến quán nước bà Lụa thì thầy La đã đeo hòm lên lưng, đứng trả tiền nước. Nó hét từ đầu phố: thầy ơi, cụ gọi. Thầy La quay lại, đứng sững giữa đường, để cái xe bò chở rơm phải dừng lại chửi. Rồi anh ta chạy. Chạy đeo nguyên cái hòm gỗ to gần bằng người, chạy nhanh hơn cả thằng Tũn.
Bà đứng ở cổng phủ chờ. Lúc anh ta chạy tới, mồ hôi đầm đìa giữa tháng Chạp, thở không ra hơi, bà đưa cho anh ta cái lọ thuốc nút sáp ong vàng.
– Em giữ. – Bà nói. – Nguyên.
Anh ta cầm lọ, nhìn bà, rồi nhìn vết tím trên má bà. Anh ta không nói gì. Nhưng bà thấy hai tay anh ta siết lấy cái lọ đến trắng cả đốt ngón.
Chiều hôm ấy, khi khách khứa các chi họ đã về hết, cụ bà ngồi lại trong từ đường với con cháu. Bà đứng sau ghế cụ, vú Thìn đứng bên. Cụ phán từng việc, chậm rãi, như đọc một tờ giấy.
Quản gia Tiêu trả lại chìa khóa, về quê, không được bước chân vào phủ. Cái Hiền về nhà bố mẹ. Ông Nhị gia về ruộng Đông Ngạn ba năm, tự tay trông lúa, không được lên kinh. Món nợ hai nghìn lạng ở chiếu bạc Hàng Bè, cụ bán ba mẫu ruộng hồi môn riêng của cụ mà trả, trả một lần cho xong, để người ta khỏi đến cổng phủ.
– Ruộng ấy cha ta cho ta lúc về làm dâu. – Cụ nói. – Năm mươi năm ta không động đến. Bây giờ mới biết để dành nó làm gì.
Nhị phu nhân vẫn trông hiệu lụa, như tờ di huấn đã viết. Nhưng mỗi quý, sổ phải đọc trước mặt cả hai phòng, và người đọc do cụ chọn. Hai trăm lạng mỗi quý cạo khỏi thư của ông Quận công trong hai năm, Nhị phòng phải lấy lãi hiệu lụa trả dần vào quỹ phủ.
Nhị phu nhân quỳ nghe, không cãi một câu. Lúc đứng dậy, bà ta đi ngang qua bà, dừng lại một chút.
– Hôm đầu em đến, chị dúi cho em gói bánh khảo. – Bà ta nói khẽ. – Chị không định hại em đâu. Chị chỉ định cho em đi.
– Dạ. Em biết.
– Em không biết. – Nhị phu nhân lắc đầu. – Đến giờ chị mới biết.
Đến lượt Đại phu nhân. Cụ im một lúc.
– Con dâu cả. – Cụ nói. – Ba người đọc của ta, con mua hai đứa bằng hai cái vòng vàng.
Đại phu nhân cúi đầu.
– Nhưng mười năm chồng con vắng nhà, con giữ cái phủ này không mất một viên ngói. – Cụ nói tiếp. – Mười năm ấy, ta chưa từng hỏi con có mệt không.
Đại phu nhân ngẩng lên, nhìn mẹ chồng. Đôi môi mỏng run run. Bà ta không khóc. Bà ta chỉ gật đầu một cái, rồi gục mặt vào hai bàn tay.
Còn cô Ba. Cụ gọi cô lên, bảo cô quỳ trước mặt bà.
– Xin lỗi chị Xoan.
Cô Ba quỳ, nước mắt chảy qua cái nốt ruồi dưới mắt trái. Bà kéo cô dậy trước khi cô kịp nói hết câu.
Hôn sự với nhà quan Thị lang Vũ, sáng hôm sau Đại phu nhân tự tay viết thư từ chối, lời lẽ khéo đến mức nhà kia không giận được. Bà ta nhờ bà đọc lại thư trước khi gửi, đọc xong hỏi một câu: có chữ nào sai không. Bà bảo không. Bà ta gật đầu, gấp thư, không nói thêm.
Cô Hương, cụ giữ lại trong phủ. Cụ bảo đứa nào bị đẩy ra đứng giữa sân mà vẫn gõ đúng thì đứa ấy dùng được.
Tối hôm ấy, cụ gọi bà vào, bảo mang cái tráp bụi dưới gầm giường sang. Cụ sờ từng thứ trong tráp: mấy cái khăn tay cũ, cái lược sừng gãy răng, quyển sách Nôm rách bìa, chiếc vòng vàng chạm hoa cúc.
– Con Hến. – Cụ nói. – Nó ở làng Vẽ, bên kia sông. Bố nó làm thợ mộc.
– Dạ, cụ nhớ ạ?
– Ta nhớ đứa nào gõ thiếu. – Cụ nói. – Mà ta cũng nhớ ta đã để nó đi với cái tiếng ăn cắp, không nói cho nó một câu. Ba đứa ấy, ta dùng chúng để thử người khác, rồi vứt đi như vứt cái lọ hỏng.
Cụ đặt chiếc vòng vàng vào tay bà.
– Qua Tết, con sang làng Vẽ, mang trả nó cái tráp, cả cái vòng. Bảo nó cụ phủ Phương nói nó không ăn cắp. Nói to lên, trước cửa nhà nó, cho hàng xóm nghe. – Cụ ngừng một chút. – Còn hai đứa kia, con hỏi thằng Tũn, nó biết nhà. Mỗi đứa ta gửi năm quan. Không phải tiền đền. Là tiền ta nợ.
Ra Giêng, bà sang làng Vẽ. Con Hến đã lấy chồng, bụng mang dạ chửa, đang ngồi đan rổ ở hiên. Nó nhìn thấy cái tráp thì đứng bật dậy, rổ rá rơi lăn lóc. Bà nói đúng như cụ dặn, nói to, trước cửa, có mấy bà hàng xóm thò đầu qua hàng rào dâm bụt. Con Hến nghe xong thì ngồi phịch xuống bậc cửa, ôm cái tráp, khóc như đứa trẻ. Mẹ chồng nó đứng sau, lúc đầu mặt nặng như chì, nghe xong thì bảo con dâu nín đi, rồi đi vào bếp pha cho bà một ấm nước vối.
Lúc bà về, con Hến chạy theo ra tận đầu ngõ, dúi vào tay bà một cái rổ nhỏ nó vừa đan xong.
– Chị bảo cụ, em xin lỗi cụ. – Nó nói. – Cái hôm ấy em gõ thiếu một cái thật. Phu nhân dặn em bỏ một dòng, em sợ quá nên bỏ. Em biết cụ biết.
Bà mang cái rổ về, đặt trên án thư cạnh sập. Cụ sờ từng nan tre, rồi bảo vú Thìn đem treo lên vách.
Còn trước Tết, ngày mười tám tháng Chạp, thầy La khều mộng mắt trái cho cụ.
Con đừng hỏi bà khều thế nào. Bà không dám nhìn. Bà chỉ nhớ anh ta rửa tay năm lần, bắt cả Thọ Xuân đường đóng cửa, chỉ cho vú Thìn và bà ở lại. Bà cầm đèn đứng bên trái, như cái hôm đầu tiên. Cụ nằm ngửa, không kêu một tiếng. Tay thầy La không run. Tay bà cầm đèn thì run. Anh ta bảo: cô run thì đèn run, đèn run thì tui khều lệch, cô muốn tui khều lệch hả. Bà cắn môi đến bật máu, ngọn đèn đứng yên.
Xong, anh ta băng mắt cụ bằng một dải vải màn sạch, dặn năm ngày không được tháo, không được cúi, không được khóc.
– Không khóc. – Cụ nói, giọng mệt. – Ta già rồi, ai làm ta khóc được.
Năm ngày ấy, cô Ba ngồi bên sập cụ từ sáng đến tối. Bà đọc truyện Nôm cho cả hai bà cháu nghe. Cô Hương ngồi dưới chân sập, bóc lạc với vú Thìn, học vú cách đọc môi. Thầy La sáng tối vào xem, nói vài câu giọng phủ Thuận, cụ cười, vú Thìn không nghe thấy cũng cười theo.
Ngày hai mươi ba, tiễn ông Táo, thầy La tháo băng.
Thọ Xuân đường đóng hết cửa, chỉ mở một cánh sổ nhỏ cho ánh sáng lọt vào nhẹ. Cụ ngồi trên sập. Dải vải màn được gỡ ra từng vòng. Cụ nhắm mắt một lúc lâu. Rồi cụ mở ra.
Không ai nói gì. Cả gian nhà nín thở.
Mắt trái cụ không còn đục như hòn bi sứ. Nó đen, ướt, hơi mờ như mặt nước ao buổi sớm. Nó chớp một cái. Hai cái. Rồi nó tìm. Nó lướt qua vú Thìn, qua thầy La, qua bà, dừng lại ở khuôn mặt tròn ngồi sát bên sập.
– Thư. – Cụ nói.
Cô Ba không nói được gì. Cô chỉ gật đầu.
Cụ đưa tay lên, lần này không mò mẫm nữa, đặt ngón tay cái lên ngay chỗ nốt ruồi dưới mắt trái của cô.
– Đúng rồi. – Cụ nói. – Giống ông nội mày.
Rồi cụ quay mặt đi, chầm chậm, tìm thêm một khuôn mặt nữa. Mắt cụ dừng ở bà.
Cụ nhìn bà rất lâu. Bà đứng im, hai tay buông thõng, như hôm đầu tiên quỳ bên sập.
– Đen hơn ta tưởng. – Cụ nói.
Thầy La phì cười. Vú Thìn không nghe thấy gì cũng cười. Bà đứng giữa Thọ Xuân đường, mặt nóng ran, mà không biết nên cười hay nên khóc, thế là bà làm cả hai.
Hôm sau, cụ cho gọi bà vào, đưa ra tờ văn tự ba năm có dấu điểm chỉ của bà. Cụ cầm nó lên, xé làm đôi, rồi làm tư.
– Sáu quan tiền ứng trước, coi như ta trả công con đọc cho ta tờ di huấn. – Cụ nói. – Từ giờ con không phải người làm của phủ này nữa. Con muốn ở thì ở, có lương tháng, giữ thư phòng cho ta, dạy cái Thư với cái Hương đọc sổ. Con muốn về thì về.
– Thưa cụ...
– Thằng thầy thuốc ra Giêng về phủ Thuận. – Cụ nói tiếp, như nói chuyện thời tiết. – Nó hỏi ta mắt phải ta bao giờ khều được. Ta bảo mùa thu năm sau. Nó bảo mùa thu năm sau nó quay lại khều. Ta bảo được. Rồi nó đứng ngây ra ở cửa mãi, ta phải hỏi nó còn gì nữa không. Nó bảo không. Nó nói dối dở lắm.
Bà cúi đầu thật thấp. Lần này, chắc chắn cụ đã nhìn thấy cái má đỏ.
Con hỏi rồi sao à?
Rồi bà ở lại phủ họ Phương thêm một năm. Dạy cô Ba và cô Hương đọc sổ hiệu lụa, đọc thư, đọc văn khế, gõ từng dòng. Gửi lương về cho bà cố con nuôi hai cậu dì nhỏ. Mùa thu năm sau, ông thầy thuốc đeo hòm gỗ quay lại, khều nốt mắt phải cho cụ. Lần ấy anh ta không hát sai lời nữa, vì cả một năm anh ta đã tập đúng một câu hò mái nhì để hát cho một người nghe.
Còn bây giờ, con mang lá thư của cậu con ra đây. Mắt bà kém rồi, chữ nhỏ thế bà không đọc được. Con đọc cho bà nghe.
Không, đừng đọc liền một hơi. Đọc hết một hàng thì dừng lại, gõ một ngón tay lên cổ tay bà. Ừ, như thế. Một dòng, một cái. Không thừa, không thiếu.
Ông ngoại con đang ngủ trưa ngoài hiên kia, cái nón lá úp trên ngực. Đọc khẽ thôi, kẻo ông dậy lại đòi hát.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe