Chương 4: Lá ớt và lá thư dạm hỏi
Con có biết vì sao bà vẫn bảo con, ở đâu cũng phải chào cô nấu bếp và thằng gánh nước trước không? Là vì mùa đông năm ấy.
Cụ giữ thầy La lại, nhưng cả phủ đều nhìn anh ta như nhìn một thằng ăn trộm chưa bị bắt. Đại phu nhân bắt quản gia Tiêu khóa cửa nhà ngang mỗi tối. Nhị phu nhân thì sang Thọ Xuân đường thăm cụ ba lần một ngày, lần nào cũng mang theo một bát chè sen, ngồi bên sập than thở. Thầy thuốc trẻ quá, liều quá. Thôi để sang xuân trời ấm hẵng chữa. Mẹ già rồi, mắt có thấy hay không thì cũng là con cháu hầu hạ cả.
Cụ nghe, không nói gì.
Thầy La sắc thuốc mới. Lần này anh ta không xuống bếp nữa mà xin một cái hỏa lò đặt ngay hiên Thọ Xuân đường, tự quạt than, tự đun, tự lọc. Đêm, anh ta ôm lọ thuốc về phòng, đặt cạnh gối. Ba ngày sau, mắt cụ hết đỏ. Năm ngày sau, mi mắt hết sưng. Cụ lại ngồi bên cửa sổ trông ra ao sen như cũ.
Nhưng cái lọ bị tráo thì không ai tìm ra. Đại phu nhân bảo thầy La tự làm hỏng rồi đổ cho người khác. Nhị phu nhân bảo chắc đứa hầu nào vụng tay làm đổ rồi sợ, đổ nước khác vào cho đầy. Quản gia Tiêu bảo việc của thầy thuốc thì thầy thuốc chịu.
Bà giữ lại cái nút gỗ của lọ thuốc bị tráo. Thầy La vứt nó trong sọt rác ở hiên, bà nhặt lên. Lớp sáp phủ trên nút gỗ không phải màu vàng như sáp ong anh ta vẫn dùng. Nó trắng đục, sờ vào thấy trơn, ngửi có mùi mỡ. Sáp nến. Loại nến trắng to người ta thắp trên bàn thờ những nhà khá giả.
Sáp ong thì cả phủ chỉ có thầy La dùng. Còn nến trắng thì nhà nào trong phủ cũng thắp.
Tối hôm ấy bà xuống bếp như thường lệ. Cái Bống đang cọ nồi. Bà ngồi xuống cạnh nó, không mở truyện ra đọc.
– Bống ơi, cái đêm trước hôm mắt cụ bị đỏ, bếp có ai xuống không?
Bống ngừng tay, nhìn bà.
– Chị hỏi làm gì?
– Chị hỏi thôi.
Bống ngẫm nghĩ, lấy mu bàn tay quệt mồ hôi trên trán, để lại một vệt nhọ.
– Có chị Hiền bên Nhị phòng. – Nó nói. – Gần canh hai. Chị ấy xuống xin một nắm lá ớt với một ít muối hạt. Bảo là Nhị phu nhân đau răng, ngậm nước lá ớt muối cho đỡ. Em còn ngồi giã lá cho chị ấy. Giã nát, vắt lấy nước.
– Nước lá ớt ấy đựng vào đâu?
– Vào cái bát con. Chị ấy bưng đi. – Bống nhíu mày. – Mà lạ, chị ạ. Nhị phu nhân đau răng thì phải đi về phía đông. Em đứng ở cửa bếp thấy chị Hiền đi về phía tây. Phía Thọ Xuân đường.
Bà ngồi im. Cái nồi đồng trên bếp sôi lục bục.
– Chị Xoan. – Bống hạ giọng. – Em nói thế có sao không chị?
– Không sao. Em chỉ nói với chị thôi.
Sáng hôm sau, lúc thằng Tũn gánh nước lên Thọ Xuân đường, bà hỏi nó tủ gỗ đựng thuốc của cụ có bao giờ khóa không. Tũn bảo có khóa, chìa khóa ông quản gia Tiêu giữ, sáng mở tối khóa. Nó nhớ rõ vì sáng nào cũng phải chờ ông Tiêu đến mở tủ lấy cái chậu đồng mới có chậu đổ nước rửa mặt cho cụ.
– Thế cái đêm ấy, có ai mượn chìa khóa ông Tiêu không?
Tũn gãi đầu.
– Em không biết. Nhưng đêm ấy em đi gánh nước muộn, thấy ông Tiêu đứng nói chuyện với chị Hiền ở đầu hồi Thọ Xuân đường. Ông Tiêu bảo chị ấy nhanh lên.
Trưa hôm ấy, đến giờ đọc truyện Nôm cho cụ nghe, bà đọc được hai trang thì gấp sách lại.
– Thưa cụ, con có chuyện muốn thưa.
– Nói.
Bà kể. Nút sáp nến. Nắm lá ớt. Chị Hiền đi về phía tây. Ông Tiêu đứng ở đầu hồi. Bà kể chậm, không thêm, không bớt, như đọc một tờ giấy.
Cụ nghe hết. Rồi cụ nói:
– Ta biết.
Bà chờ. Cụ không nói gì thêm.
– Thưa cụ, cụ biết mà cụ không...
– Ta biết. – Cụ nhắc lại. – Đọc tiếp truyện đi. Đang đến đoạn người ta đi thi.
Bà mở sách ra, đọc tiếp, mà chữ cứ nhảy múa trước mắt. Bà không hiểu. Một người bị tráo thuốc vào mắt, biết ai tráo, mà không làm gì. Bà nghĩ có lẽ cụ già rồi, sợ rồi. Có lẽ cô Ba nói đúng: cụ không nhìn thấy gì, nên cụ đành tin nấy.
Tối ấy bà ra giếng sau, ngồi trên thành giếng, ném từng hòn sỏi nhỏ xuống nước. Thầy La đi qua, tay cầm cái lọ thuốc ủ trong vạt áo như ủ một con chim non. Anh ta dừng lại.
– Cô ném sỏi xuống giếng thì mai thằng Tũn múc lên cả sỏi đó.
– Kệ nó.
Anh ta ngồi xuống cạnh bà, cách một gang tay.
– Cụ không làm chi hả?
Bà lắc đầu. Bà kể câu "Ta biết". Thầy La nghe, không cười như mọi khi.
– Ở quê tui, có ông thợ đặt đó bắt cá. – Anh ta nói. – Thấy cá vô đó rồi, ông không nhấc lên liền. Ông chờ. Nhấc sớm thì được một con, con lớn nó nghe động nó chạy mất. Chờ đủ thì nhấc một lần được cả đàn.
– Thầy bảo cụ đang chờ?
– Tui không biết. Tui chỉ biết mắt cụ. – Anh ta nhìn xuống lòng giếng tối. – Mà tui nói thiệt với cô, mắt cụ không tệ như cụ nói.
Bà quay sang. Anh ta không nói thêm. Anh ta mở vạt áo ra, đưa cái lọ cho bà cầm.
– Cầm giùm tui. Tui đi rửa tay. – Anh ta nói. – Cả nhà ni tui chỉ dám đưa lọ thuốc cho cô cầm.
Bà cầm cái lọ còn ấm hơi người. Anh ta đi về phía vò nước mưa ở góc vườn, vừa đi vừa hát nửa câu hò mái nhì, lại quên lời, lại ậm ừ. Bà ngồi đó, cầm cái lọ sành bé bằng nắm tay, nghĩ rằng từ khi vào phủ chưa ai đưa cho bà giữ một thứ gì quan trọng hơn một cuốn sổ.
Lúc anh ta quay lại lấy lọ, bà mới nhận ra mình đã ngồi im suốt mà không ném thêm hòn sỏi nào.
Mấy hôm sau, lá thư dạm hỏi của nhà quan Thị lang Vũ đến.
Thư viết trên giấy hồng điều, chữ của một ông đồ thuê, lời lẽ trơn tru như mỡ. Thư khen phủ họ Phương danh giá, khen cô Ba hiền thục, xin định ngày ăn hỏi vào tháng Giêng, cưới vào tháng Ba. Thư kê sính lễ: hai trăm lạng bạc, năm mươi tấm lụa, một đôi vòng ngọc, bốn mâm cau trầu. Thư không đòi hồi môn, chỉ "mong phủ cho cháu mang theo những thứ phủ thương".
Đại phu nhân cầm thư sang Thọ Xuân đường từ sáng, dặn bà chiều nay đọc cho cụ nghe.
Gần trưa, cô Ba tìm bà ở giếng sau. Mắt cô đỏ hoe, hai bàn tay nắm chặt lấy tay bà, lạnh ngắt.
– Chị Xoan, chị giúp tôi. – Cô nói, giọng run. – Chiều nay chị đọc thư cho bà nội. Chị đọc là nhà ấy đòi hồi môn ba trăm lạng, đòi ruộng Đông Ngạn, đòi tôi về phải hầu mẹ chồng già. Bà nội ghét nhất là nhà nào tham. Bà nội nghe thế sẽ không gật. Chỉ thế thôi. Chỉ mấy câu thôi.
Bà nhìn cô Ba. Đôi mắt to như mắt nai con, ướt đẫm.
– Cô Ba, em không đọc thế được.
– Sao không được? Bà nội có nhìn thấy đâu! Ai biết!
– Cụ biết. – Bà nói. – Cụ đếm từng dòng em đọc. Thư có mấy dòng, em gõ bấy nhiêu cái. Em thêm câu vào thì phải thêm dòng, cụ biết ngay.
– Thì chị gõ ít đi! Chị đọc hai câu một dòng!
Bà im một lúc.
– Cô Ba. Nếu em đọc sai một lần, dù chỉ một lần, thì từ hôm ấy cụ không tin em nữa. Rồi sau này, có một lá thư cần đọc đúng, cần một người cụ tin, thì không còn ai. Đến lúc ấy em không giúp được ai cả, kể cả cô.
Cô Ba buông tay bà ra.
– Chị nói hay lắm. – Cô nói, giọng lạnh đi. – Chị cũng như mẹ tôi. Chỉ biết giữ cái đúng của mình. Còn tôi lấy một ông già bốn mươi lăm tuổi thì chị có mất gì đâu.
Cô quay đi, chạy về phía dãy Đại phòng. Cái giỏ mây đựng sách lăn lóc bên ghế đá, cô không nhặt.
Chiều ấy bà đọc lá thư dạm hỏi cho cụ nghe. Đọc đúng từng chữ. Mười sáu dòng, gõ mười sáu cái. Đại phu nhân ngồi bên phải, gật đầu theo từng câu. Nhị phu nhân ngồi bên trái, cười. Cô Ba không đến. Chỗ ngồi của cô cạnh cửa sổ để trống, cái nệm cói còn in vết lõm. Đọc đến dòng kê sính lễ, bà thấy Đại phu nhân khẽ mấp máy môi, nhẩm theo từng món, như người ta nhẩm giá một thửa ruộng sắp mua. Bà đọc tiếp, giọng không đổi, ngón tay gõ đều trên cổ tay cụ.
Đọc xong, cụ bảo mọi người ra hết. Chỉ giữ bà lại.
– Con đọc có sai chữ nào không?
– Dạ không.
– Cái Thư có ưng không?
Bà ngập ngừng. Rồi bà nói thật:
– Dạ, cô Ba không ưng. Cô Ba khóc.
Cụ gật đầu.
– Tốt. – Cụ nói. Bà không biết cụ khen bà đọc đúng, hay khen bà nói thật, hay là cả hai.
Đêm ấy, gần canh ba, vú Thìn sang gõ cửa phòng bà, ra hiệu cụ gọi. Bà khoác áo sang Thọ Xuân đường. Cụ ngồi trên sập, chưa ngủ. Trên án thư có một ngọn đèn dầu đặt ở góc bên phải.
– Đèn ở đâu? – Cụ hỏi.
– Dạ, ở bên phải cụ.
– Mang sang bên trái.
Bà nhấc ngọn đèn, mang vòng qua sập, đặt xuống góc án thư bên trái. Lúc bà đặt đèn xuống, bà thấy mặt cụ, chậm rãi, từ từ, quay theo ngọn đèn.
— Hết chương 4 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe