Chương 1: Cây cọc thứ ba mươi mốt
Nước hồ Khe Lim rút tới đâu, người ta cắm một cây cọc tre đánh dấu tới đó, và sáng nay cây cọc thứ ba mươi mốt đã cắm ngay giữa sân đình làng Tràng Lim.
Tệp số 01. Bảy giờ bốn mươi sáng. Bờ đông hồ Khe Lim. Gió nhẹ, có tiếng gà, tiếng máy bơm nước xa.
Thinh ghi dòng ấy vào điện thoại, đúng thói quen mười năm đi thu âm của cô, rồi mới tháo tai nghe ra nhìn cái hồ bằng mắt thường. Cô đã nghe người ta tả trên đường đi, nhưng tả không giống. Cái hồ không còn là hồ. Nó là một cái chậu đất khổng lồ bị ai múc cạn, nước chỉ còn đọng lại một vũng xám ở chỗ trũng nhất, xa tít phía tây, dưới chân dãy núi. Từ chỗ cô đứng đi xuống, đất nứt thành từng mảng như mai rùa, màu nâu đỏ, chỗ còn ẩm thì đen bóng. Và trên lớp đất ấy là một cái làng.
Không phải cái làng như trong ảnh cũ. Là xương của một cái làng. Những nền nhà vuông vức xếp dọc một con đường đất, gạch đã mủn, chỗ còn chỗ mất. Mấy cái giếng tròn miệng đầy bùn. Một hàng thân cau chết đứng trơ, ngọn cụt, vỏ trắng như xương cá. Xa hơn, trên một cái gò hơi nhô, hai cột cổng đình bằng gạch vồ vẫn đứng, rêu bám đen tới ngang người, phía trên còn sót một mảnh mái cong đã gãy.
– Ba mươi mốt năm. – Lam Nghiên nói, đứng cạnh Thinh, tay cầm cốc cà phê pha phin mang theo từ Hà Nội. – Ba mươi mốt năm dưới nước mà cái cổng vẫn đứng. Thinh có nghe thấy không, cái đấy chính là mở đầu phim.
Thinh không nghe thấy cái cổng. Cô chỉ nghe thấy gió. Gió ở đây có một âm sắc lạ, thổi qua mặt đất nứt nẻ rồi lùa vào những cái giếng, ra một tiếng ù thấp như ai đang thổi vào miệng chai.
Đoàn làm phim của Nghiên có bốn người. Nghiên đạo diễn kiêm sản xuất, ba mươi tư tuổi, đã hai lần trượt quỹ tài trợ phim tài liệu, lần này là lần chót, hồ sơ phải nộp bản dựng thô trước tháng Mười Một. Khắc Trưng quay phim, bốn mươi lăm tuổi, người Vinh, kiệm lời, làm việc với Nghiên đã ba phim. Bờm lái flycam, tên thật là Bình, sinh viên năm cuối, nói nhiều đến mức Nghiên phải ra luật: trên phim trường mỗi giờ Bờm chỉ được kể một chuyện cười. Và Thinh, người thu âm, ít nói tới mức cả đoàn quen gọi cô là "cái tai".
Họ thuê chỗ ở nhà o Hạp, cái homestay duy nhất bên bờ hồ, hai dãy nhà gỗ lợp ngói dựng trên một mỏm đồi trồng keo. Mùa nước đầy, từ hiên nhà bước xuống mười bậc là chạm nước, khách thả câu, chèo thuyền nan. Bây giờ từ hiên nhà nhìn xuống chỉ thấy một bãi đất dài hơn một cây số, và cái làng.
O Hạp ba mươi mốt tuổi, người nhỏ, da rám, nói giọng Hà Tĩnh đặc, câu nào cũng như hỏi lại.
– Đoàn mình ăn sáng chưa? Có cháo cá trắm, cá ni bắt trong vũng nước cuối hồ đó, giờ cá dồn về một chỗ, chừ đi bắt như nhặt.
– Chị Hạp ơi, – Bờm hỏi, miệng đầy cháo, – cái làng dưới kia, chị có người nhà ở đấy không?
– Cả thôn tui là người dưới đó. – Hạp múc thêm cháo cho cậu. – Năm chín lăm dời lên cái đồi bên tê, giờ gọi là thôn Tràng Lim mới. Ông nội tui là trưởng ban di dân hồi đó. Ông nói trưa ni ông xuống dẫn đoàn đi.
Ông nội của Hạp tên là Cưởng, bảy mươi tuổi, tới lúc mười giờ, đi bộ, chống một cây gậy tre mà gần như không tì vào. Người ông khô và thẳng, tóc cắt ngắn bạc trắng, mặc áo sơ mi bộ đội cũ là phẳng, túi áo cài một cây bút bi. Ông bắt tay từng người, bắt chặt, rồi bắt tay Trưng lâu hơn một chút.
– Eng là người Nghệ?
– Dạ, cháu người Vinh.
– Rứa thì nghe tui nói được. Mấy o Hà Nội thì tui nói chậm.
Ông dẫn họ xuống con dốc đất. Ở chân dốc, chỗ ngày xưa là bến thuyền, còn một bậc đá xanh dài. Ông Cưởng dừng lại, gõ gậy vào bậc đá.
– Chỗ ni là bến chợ. Sáng mồng một, mười lăm, thuyền dưới xuôi lên đây bán muối, bán mắm. Đi thẳng vô là đường cái làng.
Họ đi trên con đường cái làng. Đất ở đây đã khô một lớp mặt, đạp lên lún xuống một đốt ngón chân, bên dưới vẫn còn ướt, mùi bùn tanh ngai ngái lẫn mùi rong mục. Trưng vác máy quay đi trước, lùi từng bước để lấy được mặt ông Cưởng và dãy nền nhà sau lưng. Thinh đi sau, cần micro giơ cao, nghe tiếng gậy tre của ông gõ xuống đất đều đặn như nhịp đếm.
Ông Cưởng đọc tên từng nền nhà, không cần nhìn.
– Nhà ông Hàn Tạo. Nhà mệ Tư Cúc, mệ bán bún. Nhà ông giáo Lĩnh, nhà ni có cây vú sữa, đó, gốc nó còn đó. Nhà bác Thêm thợ mộc…
Nghiên ra hiệu cho Trưng giữ cảnh lâu. Cô thì thầm với Thinh: "Ông này là kho báu". Thinh gật đầu. Giọng ông Cưởng trầm, đều, không vấp, như đọc một bài đã thuộc. Cô chỉ để ý một điều mà chưa biết gọi tên là gì: mỗi khi đọc xong một cái tên, ông đều nhìn ra phía tây, về phía vũng nước xám cuối hồ, một cái liếc rất nhanh, như người lái xe liếc gương.
Tới giữa làng là gò đình. Gò cao hơn mặt đường chừng hai mét, có bậc gạch lên. Cái cổng đình gần như còn nguyên khung, hai cột vồ, xà ngang đã sập một nửa. Bên trong, nền đình lát gạch vuông, chỗ còn chỗ bong. Ở giữa sân đình là cây cọc tre thứ ba mươi mốt, còn mới, buộc một mảnh vải đỏ.
– Năm ni hạn quá. – Ông Cưởng nói. – Ba mươi mốt năm, đây là lần đầu nước xuống tới sân đình. Người làng mới xuống đây thắp nén hương, khóc như mưa. Có người ôm cái cột mà khóc.
– Hồi dời đi, ông có buồn không ạ? – Nghiên hỏi, giọng nhẹ, đúng kiểu câu hỏi dẫn.
– Buồn chi mà không buồn. – Ông đứng thẳng, nhìn vào ống kính. – Nhưng mà nhà nước làm hồ cho dưới xuôi có nước cấy lúa, mình phải đi. Năm đó cả xã chỉ có làng Tràng Lim dời trước thời hạn. Một trăm mười tám hộ, đi không sót hộ mô, không có người mô chết. Tỉnh về trao bằng khen tận tay.
Ông nói câu cuối hơi to. Thinh chỉnh lại mức thu.
Trưa, họ quay về nhà Hạp ăn cơm. Chiều, Bờm cho flycam bay. Cậu đứng trên hiên, hai tay cầm bộ điều khiển, mắt dán vào màn hình, miệng lẩm bẩm như đang nói chuyện với con máy. Nghiên đứng sau lưng cậu, chỉ chỗ này chỗ kia. Từ trên cao, cái làng hiện ra rõ hơn: một con đường chính chạy dọc, mấy con ngõ tỏa ra như xương cá, những ô nền nhà vuông, cái gò đình ở giữa. Và về phía tây, chỗ vũng nước xám, con đường làng chui thẳng xuống nước rồi mất.
– Anh Trưng ơi, – Bờm gọi, – anh xem này, đoạn đường kia đi đâu?
Trưng ghé vào màn hình.
– Ra phía sông cũ. Hồ này ngày xưa là thung lũng có con sông chảy qua.
– Ông Cưởng bảo chỗ đó là gì?
Không ai hỏi ông Cưởng. Ông đã về thôn mới từ trưa.
Chạng vạng, Thinh xin đi một mình xuống bãi để thu tiếng nền. Đây là việc cô thích nhất trong nghề: đứng im một chỗ mười phút, hai mươi phút, không làm gì, để cái máy nghe thay mình. Nghiên dặn cô cầm theo đèn pin. Hạp thì dặn một câu khác, giọng không đùa:
– O đừng đi xa quá cổng đình nghe. Tắt nắng thì về.
– Sao thế chị?
– Bùn ở phía tây nớ chưa khô. Lún tới bụng. – Hạp ngừng một lát. – Mà người làng cũng nói rứa. Tắt nắng thì về.
Thinh đi tới chân gò đình phía đông rồi dừng lại. Cái gò che mất phần bãi phía tây, cô chỉ thấy được mép vũng nước xám qua khe giữa hai cột cổng. Mặt trời đã lặn sau dãy núi phía tây, trời chuyển từ cam sang tím, rồi tím xám. Mặt đất nứt nẻ thôi đỏ, chuyển sang một màu nâu tro. Muỗi bắt đầu ra. Cô bấm ghi, đặt máy trên chân đế thấp, đeo tai nghe, rồi đứng yên.
Tệp số 09. Mười tám giờ hai mươi hai. Chân gò đình, hướng tây.
Trong tai nghe, thế giới to hơn. Tiếng muỗi vo ve sát tai. Tiếng một con cuốc kêu ở bờ đồi. Tiếng ếch nhái từ vũng nước xa, nghe như ai đang lắc một rổ sỏi. Tiếng gió lùa vào miệng giếng, ù ù. Tiếng nứt rất nhỏ của đất khi hơi nóng rút ra, lách tách, lách tách, như ai bẻ bánh đa.
Rồi một tiếng khác.
Nó tới từ phía tây, từ phía vũng nước, rất thấp, thấp tới mức thoạt đầu Thinh tưởng là tiếng xe tải chạy trên đường đèo. Nhưng nó không chạy. Nó đứng một chỗ, kéo dài, rồi dâng dần lên, đầy dần, khàn khàn, như hơi người thổi vào một cái ống rỗng to. Nó kéo dài chừng mười giây. Rồi tắt. Không tắt dần, mà tắt ngang, như người thổi hết hơi.
Thinh không nhúc nhích. Cô nhìn đồng hồ trên máy. Mười tám giờ hai mươi sáu.
Cô chờ tiếng thứ hai. Không có tiếng thứ hai. Chỉ có ếch nhái, muỗi, gió. Một lúc sau, tiếng ếch nhái cũng thưa dần, rồi im hẳn, cái im đến đột ngột, như cả vũng nước cùng nín thở.
Thinh tắt máy, cầm chân đế, đi về. Cô đi không nhanh, nhưng cũng không dừng lại nhìn phía sau. Trên đầu cô, con flycam của Bờm vù vù bay ra phía gò đình cho vòng cuối, đèn đỏ dưới bụng nhấp nháy.
Bữa tối có cá kho, rau lang luộc, canh chua. Ông Cưởng lại xuống, lần này ông ở lại ăn, vì Hạp bảo trời tối đi đường đồi trơn. Thinh mở tệp số 09 cho cả mâm nghe qua cái loa nhỏ. Bờm đang gắp cá thì dừng đũa.
– Trâu à?
– Trâu rống không dài thế. – Trưng nói. – Mà không có hơi thở ra hít vào.
– Nghe như tù và. – Nghiên nói, mắt sáng lên. – Đúng không ông? Ngày xưa làng có tù và không ạ?
Ông Cưởng đặt đũa xuống. Ông nghe hết đoạn âm thanh, nghe tới chỗ nó tắt ngang, rồi cầm chén nước chè uống một hơi.
– Ống xả đáy. – Ông nói. – Cái cống xả dưới chân đập, nước xuống thấp thì gió lùa vô ống, kêu rứa đó. Năm mô hạn cũng kêu.
– Ống xả cách đây bao xa ạ?
– Bảy cây số.
Trưng nhìn Thinh. Thinh nhìn Trưng. Không ai nói gì. Tiếng đó không giống tiếng ở cách bảy cây số. Tiếng đó ở gần, và đến từ phía vũng nước, không phải từ phía đập. Nhưng ông Cưởng đã cầm đũa lên, gắp cho Bờm một khúc cá, nói sang chuyện khác: chuyện cá trắm dồn về vũng, chuyện người trên thôn mới đêm qua đi bắt được con cá chép mười hai cân.
Hạp dọn mâm. Lúc đi ngang qua chỗ Thinh, cô cúi xuống, nói khẽ:
– Ông tui nói năm mô hạn cũng kêu. Mà tui ở đây ba mươi mốt năm, năm ni là năm đầu tui nghe.
Chín giờ tối, ông Cưởng về phòng ngủ ở dãy nhà sau. Nghiên, Trưng và Bờm ngồi ngoài hiên xem lại tư liệu trong ngày trên máy tính. Thinh ngồi cạnh, đeo tai nghe, lọc tiếng. Tối nào Bờm cũng chép tư liệu trong ngày ra hai ổ cứng: một ổ để lại trong máy tính của cậu, một ổ Nghiên bỏ vào cái ba lô chống nước đeo bên người, đi đâu cũng mang, từ ngày chị bị mất trộm cả một phim ở bến xe.
Bờm mở đoạn flycam lúc chạng vạng, đoạn cậu cho máy bay một vòng cuối trước khi hạ cánh. Máy bay thấp, từ phía bờ đông ra gò đình, lướt qua cái cổng, rồi vòng về. Nghiên bảo dừng ở cảnh cái cổng để chọn khung hình mở phim.
Bờm bấm dừng. Cậu phóng to. Cậu im một lúc lâu, lâu tới mức Nghiên phải hỏi.
– Gì thế?
– Chị nhìn sân đình xem.
Trong khung hình, ánh chạng vạng đã chuyển sang tím, mặt đất ẩm ở phía tây gò đình bóng lên như da cá. Trên lớp bùn ẩm đó có một hàng dấu chân. Dấu chân trần, nhỏ, ngón chân xòe, cỡ chân một đứa trẻ năm sáu tuổi. Hàng dấu chân bắt đầu từ mép vũng nước xám ở tít phía tây, chạy thẳng một đường qua bãi bùn, lên những bậc gạch của gò đình, và dừng lại ngay giữa hai cột cổng.
Không có dấu chân đi về.
– Bùn thế kia, – Trưng nói chậm, – trẻ con trên thôn mới có xuống đây chơi không?
– Bùn phía tây lún tới bụng. – Thinh nói. Giọng cô khàn. – Chị Hạp bảo thế.
Bờm tua đoạn phim lại, tua về một tiếng trước, đoạn máy bay bay qua đúng chỗ đó lúc năm giờ chiều. Lúc năm giờ chiều, mặt bùn phía tây gò đình phẳng lì, không có một dấu vết nào.
Cậu nhìn đồng hồ ghi trên đoạn phim có dấu chân. Mười tám giờ hai mươi bảy.
Thinh tháo tai nghe ra. Một phút sau tiếng tù và tắt.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe