Chương 4: Người không có tên
Tệp số 19. Tám giờ mười lăm sáng. Thôn Tràng Lim mới, hiên nhà mệ Sâm. Tiếng gà, tiếng loa phát thanh xã đọc tin hạn.
Thôn Tràng Lim mới nằm trên lưng một quả đồi trọc, nhà cửa xếp thành ô bàn cờ theo đúng bản vẽ năm chín lăm, mái tôn đỏ, tường vôi vàng, mỗi nhà một mảnh vườn bằng nhau. Ba mươi mốt năm, người ta trồng được mít, trồng được chè, trồng được hàng cau trước ngõ, nhưng nhìn từ xa thôn vẫn có cái vẻ ngay ngắn của một thứ được kẻ bằng thước.
Nghiên đi với Thinh. Cô để Trưng và Bờm ở lại quay cảnh bãi bùn, không nói lý do. Lý do là cô không muốn ông Cưởng biết cô đi hỏi chuyện sau lưng ông.
Người già nhất thôn là mệ Sâm, chín mươi hai tuổi, mắt mờ nhưng tai còn thính, ngồi trên cái chõng tre ngoài hiên, tay vê một nắm thuốc lào. Cháu dâu mệ pha cho khách ấm chè xanh đặc, rót vào mấy cái chén mẻ miệng.
– Bãi Sậy hả? – Mệ hỏi lại, giọng the thé. – Mi hỏi Bãi Sậy làm chi?
– Dạ, cháu làm phim về làng cũ. Cháu thấy dưới nước phía tây có mấy cái nền nhà.
– Bảy nhà. – Mệ nói ngay, như đếm trên đầu ngón tay. – Dân đốt than. Người ở mấy nơi khác tới, đi theo rừng mà làm ăn, rừng mô còn gỗ thì đến. Họ dựng nhà tranh trên bãi sông, ở nhờ đất bãi, không có hộ khẩu. Làng tui không ai chơi với họ. Không phải ghét chi, mà họ ở rứa rồi họ đi, không biết mà chơi.
– Mệ còn nhớ ai không ạ?
Mệ Sâm im một lúc lâu. Bà rít một hơi thuốc lào trên cái điếu cày đã bóng như sừng, nhả khói, rồi nói:
– Nhà mụ Sậm. Nhà lớn nhất bên đó, có cái giếng. Mụ Sậm góa, có đứa con gái tên Mót, con Mót cũng góa, chồng hắn chết trong rừng, cây đổ đè. Con Mót có thằng con trai nhỏ…
Thinh nín thở.
– …tên chi tui quên rồi. – Mệ nói. – Thằng nhỏ đen nhẻm, ốm nhom, chạy như con sóc. Ngày mô cũng ra đình, đứng dưới cái tù và mà ngó. Ông từ giữ đình thương nó, có bữa cho nó sờ. Nó tết châu chấu lá sậy cho con nít làng, đứa mô cho nó cái kẹo thì nó cho một con. Cháu nội tui có một con, cất trong hộp bút cả năm.
Nghiên nhìn Thinh. Thinh thấy cổ họng mình khô lại.
– Có phải tên là Mọn không mệ?
Mệ Sâm quay mặt về phía Thinh, đôi mắt mờ đục như hai hòn bi ve dưới nước.
– Mọn. – Bà nói chậm. – Ừ. Thằng Mọn. Mụ Sậm gọi nó về ăn cơm, gọi to lắm, đứng bên đình cũng nghe. Mọn ơi, vô ăn cơm, Mọn.
Bà nói đúng câu ấy, đúng cái ngữ điệu ấy, lên ở chữ "ơi", xuống ở chữ "cơm". Thinh không cần bật lại tệp số 15 để so. Câu ấy đã nằm trong đầu cô từ đêm qua.
– Thế năm dời làng, nhà mụ Sậm đi đâu hả mệ?
– Đi mô thì tui nỏ biết. – Mệ đặt cái điếu xuống. – Mấy nhà Bãi Sậy kia đi trước Rằm tháng Chín. Tui thấy họ gánh nồi niêu, chăn chiếu đi ngang qua đình, đi về phía đèo. Nhà mụ Sậm thì tui không thấy.
– Không thấy đi ạ?
– Không thấy đi. Mà hồi đó lu bu, nhà mô cũng lo dọn đồ, đứa mô để ý đứa mô. Ông Cưởng nói nhà mụ đi rồi, đi trước cả. Ông Cưởng đi từng nhà, ghi từng người, ông Cưởng nói rứa thì là rứa.
Cháu dâu mệ Sâm rót thêm chè, chen vào:
– Mệ ơi, nhà Bãi Sậy có được đền bù không mệ?
– Đền bù chi. – Mệ cười, cái cười móm mém. – Không có hộ khẩu, không có tên trong danh sách thì đền ai. Nghe nói mụ Sậm lên xã xin mấy bận. Mụ nói mụ ở đó mười năm, đẻ đứa cháu ở đó, mụ không có chỗ mô mà đi. Người ta bảo đất bãi là đất công, ở nhờ thì phải đi, không có tiền. Mụ ngồi ở sân ủy ban cả buổi. Rồi mụ về.
Bà cầm cái điếu lên, rồi đặt xuống, không hút.
– Mà lạ. Đêm bão năm đó, cả làng ngồi trên đồi ni, nhà cửa chưa xong, căng bạt mà ngủ. Nước lên ầm ầm, nghe như sông gầm. Tui nằm chờ. Tui chờ tiếng tù và.
– Sao lại chờ tiếng tù và hả mệ?
– Ban di dân dặn. Đêm mô đóng đập, nước lên, thì thổi ba hồi tù và ở đình cũ, cho người mô còn sót dưới đó biết mà chạy. Cả làng ai cũng biết. – Mệ quay mặt về phía hồ, cái hồ mà từ hiên nhà bà nhìn ra chỉ thấy một vệt đất đỏ. – Đêm đó tui nằm chờ tới sáng. Không nghe tiếng mô hết.
Lúc ra về, đi ngang qua đình mới của thôn, một ngôi đình nhỏ xây gạch, mái ngói đỏ, Nghiên dừng lại. Trong đình, trên cây cột bên trái, có treo một cái tù và. Cái tù và sừng trâu, bóng loáng, đầu nhỏ có bịt đồng. Ông từ giữ đình mới đang quét sân.
– Cái tù và này là cái ở đình cũ phải không bác?
– Không phải. – Ông từ chống chổi. – Cái ni ông Cưởng mua ở chợ dưới xuôi, năm chín sáu. Ông nói cái cũ bị nứt, bỏ lại rồi. Ông Cưởng bỏ tiền túi mua cái ni, treo lên cho đình mới có tù và.
Thinh ngắm cái tù và mới. Nó đẹp, nhẵn, đầu bịt đồng còn sáng. Nhưng không có vết tay người cầm. Ba mươi năm treo trên cột, chưa ai thổi nó lần nào.
Trưa, ăn cơm xong, Thinh ra ngồi ở bậc đá xanh của bến chợ cũ, chỗ ông Cưởng dẫn đoàn xuống hôm đầu. Nắng gắt, đất nứt bốc hơi lên, nhìn ra cái làng thấy như nhìn qua lớp nước. Cô muốn ngồi một mình. Nhưng Trưng đi xuống, ngồi cạnh cô, đưa cô một chai nước.
Hai người ngồi im một lúc. Rồi Trưng lấy trong túi áo ngực ra con châu chấu lá sậy, đặt lên bậc đá giữa hai người. Qua một đêm, nó vẫn xanh. Không héo, không quăn mép.
– Thinh có biết vì sao anh nhận phim này không? – Anh hỏi.
– Vì chị Nghiên trả lương đúng hạn.
Trưng cười, cái cười ngắn của người ít cười.
– Bố anh làm kỹ sư vận hành ở đầu mối Khe Lim. Từ năm chín mươi tới năm hai nghìn. Năm chín lăm ông trực ca đêm đóng dòng.
Thinh quay sang nhìn anh. Trưng nhìn thẳng ra lòng hồ.
– Ông mất năm mười chín, ung thư gan. Mấy ngày cuối, bệnh viện truyền thuốc giảm đau, ông lẫn. Ông nói nhiều thứ, toàn chuyện cũ. Chuyện đi bộ đội, chuyện học ở Liên Xô, chuyện mẹ anh hồi trẻ. Nhưng có một câu ông nói đi nói lại, đêm nào cũng nói, anh ngồi trực nghe tới thuộc. Ông nói: "Bãi Sậy có đèn. Tôi hỏi rồi. Tôi hỏi rồi mà."
– Ông hỏi ai?
– Anh không biết. Hỏi ông thì ông nhìn anh như nhìn người lạ. Có một đêm ông nắm tay anh, chặt lắm, ông bảo: "Có nghe tù và không? Có nghe không?" Anh bảo không, bố ạ, không có tù và nào cả. Ông buông tay anh ra, quay mặt vào tường, khóc. Bố anh cả đời anh chưa thấy khóc lần nào.
Gió từ lòng hồ thổi lên, nóng như hơi lò.
– Anh không biết Bãi Sậy là đâu. – Trưng nói. – Anh tra bản đồ, không có. Anh hỏi mấy chú đồng nghiệp cũ của bố, mấy chú bảo không nhớ. Rồi năm nay đọc tin hồ cạn, thấy chị Nghiên đăng tìm người quay phim cho đề tài này, anh xin vào.
– Sao anh không nói với chị Nghiên?
– Vì chị Nghiên sẽ quay. – Trưng cầm con châu chấu lên, đặt lại vào túi áo. – Anh muốn biết bố anh đã hỏi cái gì trước, rồi mới quyết có cho ai quay hay không. Thinh giữ giúp anh mấy hôm.
Thinh gật đầu. Cô nghĩ tới câu của mệ Sâm: Đêm đó tui nằm chờ tới sáng. Cô nghĩ tới một người kỹ sư trẻ đứng trên đỉnh đập trong đêm bão, nhìn qua ống nhòm về phía lòng hồ tối đen, thấy mấy đốm đèn.
Bốn giờ chiều, nắng đã xiên, Nghiên bảo Bờm bay flycam ra phía tây. Cô muốn một cảnh bay thấp, sát mặt nước, lướt qua bảy cái nền nhà dưới nước, thấy rõ những đường gạch như nhìn qua mặt kính. Đó sẽ là cảnh kết thúc phần một của phim.
– Thấp cỡ nào hả chị?
– Thấp nhất có thể.
– Thấp quá hơi nước nó làm mờ ống kính. Với cả em không chắc có cành cây khô chìa lên không.
– Cẩn thận là được.
Bờm cho máy bay lên, bay thẳng về phía tây, qua gò đình, qua bãi bùn, ra tới mép vũng nước. Cậu hạ độ cao từ từ. Năm mươi mét. Hai mươi mét. Năm mét. Trên màn hình, mặt nước xám hiện ra ngày càng gần, nắng chiều đánh lên thành những vệt vàng chói. Bờm chỉnh góc máy quay chúi xuống. Ánh phản chiếu biến mất, và dưới lớp nước trong, những đường nền gạch hiện ra, rõ tới mức đếm được từng viên.
– Đẹp. – Nghiên thì thầm. – Đẹp quá. Giữ đấy. Bay chậm qua cái nền lớn nhất.
Máy bay lướt chậm. Hai mét trên mặt nước. Cái nền lớn nhất trôi vào khung hình, bốn bức tường gạch đổ còn cao ngang gối, một khoảng sân, cái vòng tròn của miệng giếng. Bên cạnh miệng giếng có một cái gì đó nhỏ, trắng.
Rồi cái thứ nhỏ trắng ấy cử động.
Nó ngước lên.
Đó là một khuôn mặt. Một khuôn mặt trẻ con, nằm ngay dưới mặt nước, chỉ cách mặt nước chừng một gang tay, ngửa lên, mắt mở, nhìn thẳng vào ống kính. Một khuôn mặt nhỏ, gầy, gò má nhô, tóc đen bết vào trán như rong. Nước trong tới mức Thinh thấy được cả hàng mi của nó. Nó không có vẻ gì là đang chết đuối. Nó nhìn lên, như đứa trẻ nằm dưới gốc cây nhìn lên tán lá, tò mò, chăm chú, gần như là vui.
Môi nó mấp máy.
Màn hình nhòe đi. Một vệt nhiễu xám chạy ngang. Dòng chữ báo lỗi màu đỏ nháy liên tục ở góc. Rồi màn hình đen.
– Mất tín hiệu. – Bờm nói, giọng lạc đi. – Mất tín hiệu rồi. Nó không về được.
Cậu bấm nút gọi máy bay về, bấm liên tục, ngón tay cái trắng bệch. Không có gì xảy ra. Cả bốn người đứng trên hiên nhà Hạp, nhìn về phía tây. Xa xa, trên mặt vũng nước xám, có một chấm đen rất nhỏ chao một cái, rồi rơi thẳng xuống, không một tiếng động nào vọng tới được.
— Hết chương 4 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe