AI Truyện
Mùa hồ cạn ở làng Tràng Lim

🕯️ Truyện ma kinh dị

Tệp số bốn mươi bảy

Mùa hồ cạn ở làng Tràng Lim · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Tệp số bốn mươi bảy

Tệp số 47. Hai giờ năm mươi tám phút sáng. Gò đình. Không rõ ai bấm ghi.

Ba mươi giây đầu chỉ có tiếng mưa. Mưa đã nhỏ hơn lúc trước, rơi đều trên mảnh mái ngói còn sót, lộp độp, rồi chảy thành dòng xuống nền gạch. Gần hơn, sát micro, là tiếng vải sột soạt, tiếng thở. Bốn nhịp thở. Thinh nhận ra từng người. Nhịp thở nặng và đều của Trưng. Nhịp thở ngắn, hơi khò khè của Nghiên, người bị viêm xoang mãn tính. Nhịp thở của chính cô, chậm, của người đang ngủ. Và nhịp thở của Hạp, nông, gấp, của người đang thức.

Rồi tiếng nước.

Không phải tiếng mưa. Tiếng ai đó lội nước. Từ xa, rất xa, từ phía tây. Chậm rãi. Không vội. Tiếng nước bị rẽ ra, rồi khép lại. Thinh vặn to lên. Tiếng lội nước gần dần, gần dần, tới mức cô có thể hình dung ra từng bước chân, một người đàn ông có tuổi, bước dài, đều, một chân hơi nặng hơn chân kia.

Tiếng lội nước dừng lại. Ngay dưới chân gò đình.

Rồi một giọng nói. Giọng ông Cưởng. Không lớn, không run, không khàn như lúc ông kể chuyện buổi sáng hôm ấy. Giọng ông như những ngày đầu, cái giọng trầm, đều, ấm của người đứng ở bến chợ đếm thuyền.

– Mọn ơi. Ông tới rồi đây.

Im lặng. Tiếng mưa.

– Hồi nớ con thổi không ra tiếng, cả làng cười con. – Giọng ông Cưởng nói. – Ông cũng cười. Ông xin lỗi con. Chừ ông thổi cho con nghe nghe. Ông thổi cho mụ với con Mót nghe nữa.

Và tiếng tù và vang lên.

Thinh đã nghe tiếng tù và ấy nhiều lần. Lần đầu, chạng vạng hôm mới tới, khàn đục và xa. Lần thứ hai, đêm cái túi vải bạt trống không, vang và rõ. Lần thứ ba, giữa nước lũ, xuyên qua mưa như mũi kim. Nhưng lần này khác. Lần này nó không gọi ai chạy. Nó trầm, dài, chậm, mỗi hồi như một tiếng thở ra rất dài của một người vừa đặt được gánh nặng xuống.

Một hồi. Ngừng. Một hồi. Ngừng. Hồi thứ ba.

Khi hồi thứ ba tắt, trong tai nghe có tiếng một đứa trẻ cười. Cái tiếng cười khanh khách cô đã nghe đêm trên thuyền, sát mạn thuyền. Nhưng lần này nó không ở sát micro. Nó ở dưới chân gò, ở chỗ giọng ông Cưởng.

– Ông thổi to quá. – Giọng đứa trẻ nói. Giọng Hà Tĩnh, ngọng ngọng, hụt hơi vì cười. – Ông thổi to hơn ông từ.

– Ừ. – Giọng ông Cưởng. – Ông tập ba mươi mốt năm đó.

Rồi giọng một người đàn bà già, cái giọng ở bên miệng giếng:

– Thôi, về. Mưa rứa mà đứng đó.

Và tiếng lội nước. Không phải một người nữa. Nhiều người. Bước dài, bước ngắn, bước lóc cóc của trẻ con. Đi xa dần, về phía tây.

Rồi giọng đứa trẻ, đã xa, vọng lại, vừa đi vừa đếm. Thinh nhớ lời ông Cưởng trong cuộc phỏng vấn đầu tiên: ngày dời đi tui đứng ở bến chợ đếm từng thuyền. Đứa trẻ đếm như thế. Như người ta đếm người lên thuyền cho đủ.

– Một. Hai. Ba. Bốn.

Tiếng lội nước xa dần. Mất hẳn.

Tệp ghi âm còn chạy thêm hai mươi sáu phút nữa. Hai mươi sáu phút chỉ có mưa, và tiếng thở của bốn người dưới mái đình. Đến phút thứ hai mươi chín, nhịp thở của Hạp thay đổi. Nó chậm lại, đều đặn, sâu. Lần đầu tiên trong cả đêm hôm ấy, Hạp ngủ.

Thinh nghe đi nghe lại tệp ấy suốt đêm cuối cùng ở bên hồ. Sáng ra, lúc Hạp đang nấu cháo, cô hỏi Hạp một câu, cố cho giọng mình bình thường:

– Đêm mưa ấy, khoảng gần ba giờ, chị có nghe thấy gì không?

Hạp đang khuấy nồi cháo, dừng tay.

– Tui nằm mơ. – Cô nói, không quay lại. – Tui mơ ông tui đứng dưới chân gò, ông nói: "Ông về đây Hạp." Rồi tui ngủ. Chắc là mơ.

Thinh không nói gì thêm.

Tư liệu của phim không mất. Ổ cứng thứ hai vẫn nằm trong máy tính của Bờm ở homestay, còn nguyên mọi thứ cậu chép lúc năm giờ chiều hôm ấy, khi cả đoàn ngồi cãi nhau trong phòng Nghiên. Đó cũng là bản mà Nghiên đã mở cho công an xem. Chỉ thiếu những gì sau năm giờ chiều: cái màn hình nhiệt với bảy hình người, cái mặt gỗ dưới bùn. Chúng nằm trong cái ba lô dưới đáy hồ, và trong cái thẻ nhớ máy quay của Trưng đã ngấm nước, không đọc được nữa.

– Lúc cắt quai ba lô, chị Nghiên không nhớ ra là còn bản sao. – Trưng nói với Thinh, một buổi tối ngoài ban công phòng dựng ở Hà Nội. – Chị ấy kể với anh. Chị ấy tưởng mất hết.

– Em biết. – Thinh nói. – Em thấy chị tính. Rồi chị cắt.

Bờm thì làm thêm một việc mà không ai bảo. Cậu dựng lại tấm bản đồ ghép từ ảnh flycam thành một bản vẽ sạch, đánh số từng nền nhà, ghi tên từng hộ theo lời ông Cưởng đọc trong buổi phỏng vấn đầu tiên. Một trăm mười tám ô. Rồi cậu vẽ thêm bảy ô ở khúc sông cũ phía tây. Sáu ô cậu để trống tên. Ô lớn nhất, có cái vòng tròn của miệng giếng, cậu ghi ba chữ: Sậm, Mót, Mọn. Cậu in tấm bản đồ ra khổ lớn, gửi xe khách vào Hà Tĩnh cho Hạp. Hạp mang lên đình mới, treo cạnh cái tù và cũ.

Lần sau gọi điện, Hạp kể: người thôn mới lên đình, đứng trước tấm bản đồ, ai cũng tìm nhà mình trước. Rồi ai cũng dừng lại ở bảy cái ô phía tây. Có một ông cụ đứng rất lâu, rồi xin Hạp cây bút, ghi vào một trong sáu ô trống một cái tên. Ông nhớ ra nhà đó ngày xưa bán than cho nhà ông.

– Giờ làng tui có một trăm hai mươi lăm nhà. – Hạp nói. – Ông tui đọc thiếu bảy nhà, ba mươi mốt năm.

Ba tháng sau, Nghiên dựng xong bản thô. Tên phim là "Ba hồi tù và". Phim dài tám mươi tư phút. Nó mở bằng cảnh flycam bay thấp qua cái cổng đình trong ánh chạng vạng, cảnh mà Nghiên đã chọn từ ngày đầu tiên. Nó có hàng dấu chân trẻ con trên bãi bùn, có giọng mệ Sâm gọi "Mọn ơi, vô ăn cơm, Mọn", có ba ngọn đèn dưới mặt nước mà máy không bắt được nên Nghiên để màn hình đen và chỉ để tiếng. Và nó có đoạn phỏng vấn ông Cưởng buổi sáng hôm ấy, trọn vẹn, không cắt một câu.

Trước khi nộp, Nghiên lái xe vào Hà Tĩnh một mình, mang theo cái máy tính. Chị ngồi với Hạp cả một buổi chiều trên hiên nhà, nhìn xuống cái hồ đã đầy nước lại, mênh mông, xanh ngắt, không còn dấu vết gì của một cái làng.

Hạp xem hết tám mươi tư phút. Xem tới đoạn ông nội cô nhìn vào chén chè, cô không khóc. Xem tới cuối, khi màn hình đen và chạy dòng chữ trắng ghi tên ba người dưới Bãi Sậy, cô mới khóc.

– Chị phát đi. – Hạp nói. – Ông tui nói quay đi. Ông tui muốn người ta biết.

– Còn em? Người ta sẽ nói…

– Người ta nói rồi. – Hạp lau nước mắt bằng mu bàn tay. – Mà chị biết không, từ sau đám tang, có ba nhà trên thôn mang con cái xuống đây, hỏi tui chỗ ông tui đứng hôm đó. Họ đứng ở bờ hồ, chỉ cho con cái ra phía tây, kể cho con cái nghe. Ông tui ba mươi mốt năm sống như cái bằng khen. Giờ ông được sống như ông.

Nghiên nộp phim. Phim được tài trợ.

Ở cuối phim, sau tên ba người dưới Bãi Sậy, Nghiên để thêm một dòng nữa: tên ông Cưởng, năm sinh, và một dấu gạch ngang không có năm mất. Rồi một dòng nhỏ hơn: tưởng nhớ kỹ sư Lã Khắc Dụng.

Nghiên không đưa tệp số 47 vào phim. Thinh đưa cho chị nghe, một buổi tối ở phòng dựng ở Hà Nội. Chị nghe xong, tháo tai nghe ra, ngồi im rất lâu.

– Không phải cái gì có được cũng là để phát. – Chị nói. – Thinh giữ đi.

Trưng thì về Vinh. Một buổi chiều cuối tháng Mười Hai, anh ra nghĩa trang, đứng trước mộ bố. Anh không thắp hương ngay. Anh đặt cái điện thoại lên bia mộ, mở tệp số 47 mà Thinh đã chép cho anh, vặn loa ngoài, rồi đứng nghe cùng bố. Ba hồi tù và vang lên giữa nghĩa trang vắng, giữa những hàng bạch đàn đang thay lá.

– Có tù và rồi bố ạ. – Anh nói. – Ông Cưởng nhờ con nói với bố. Ông xin lỗi bố.

Anh thắp hương. Gió lật mấy cánh hoa cúc trên bia. Anh đứng thêm một lúc, rồi đi về.

Mùa khô năm sau, cuối tháng Sáu, Thinh nhận được tin nhắn của Hạp.

"Năm ni lại hạn. Nước xuống, gò đình lại lên. Chiều qua tui chèo thuyền ra thắp hương ở cổng đình. Trên bậc trên cùng có dấu chân. Mấy hàng dấu chân trần, đi từ phía tây lên, đứng ngay giữa hai cột, rồi quay về phía tây. Tui đếm. O nghe cho kỹ cái tệp đó rồi nhắn tui."

Kèm theo là một tấm ảnh. Bậc gạch trên cùng của gò đình, bùn khô se mặt, và trên đó những dấu chân. Một đôi dấu chân lớn, bàn bè, ngón choãi, của người đàn bà già. Một đôi thon hơn. Một đôi nhỏ xíu. Một đôi dấu chân đàn ông, gót sâu, một bên sâu hơn bên kia, như người đi có cái lưng đau.

Và một đôi nữa. Dấu chân của một người đàn ông trẻ hơn, to bản, gót chân và mũi chân đều sâu như nhau, đứng hơi lùi lại phía sau, như người đến sau, đứng chờ.

Thinh phóng to tấm ảnh, đếm đi đếm lại. Năm.

Cô mở tệp số 47, tua tới đoạn cuối, đoạn tiếng lội nước đi xa dần về phía tây, đoạn đứa trẻ đếm. Cô vặn mức nghe lên tối đa, mức mà trước nay cô chưa bao giờ dùng vì nó làm vỡ tiếng. Cô nghe lại đoạn ấy chậm một nửa.

– Một. Hai. Ba. Bốn.

Tiếng nước. Tiếng mưa. Một khoảng lặng dài, dài tới mức trước đây cô đã tưởng là hết.

Rồi, rất xa, rất khẽ, khẽ tới mức chỉ cái tai của người làm nghề mười năm mới nghe ra được, giọng đứa trẻ, vui vẻ, như vừa thấy thêm một người quen trên bến:

– Năm. Chú cũng về hả chú?

Thinh ngồi rất lâu. Rồi cô nhấc điện thoại lên, mở tin nhắn của Hạp, và gõ. Cô gõ rồi xóa, gõ rồi xóa, mấy lần liền.

Cuối cùng cô chỉ hỏi một câu: "Năm hai nghìn lẻ năm, đêm bố chị đi kéo lưới, chị có nhớ hồ có lặng không?"

Hạp đọc ngay. Ba cái chấm hiện lên, nhấp nháy, rồi tắt. Rồi lại hiện lên.

Rồi tắt.

— Hết —

Mục lục Mùa hồ cạn ở làng Tràng Lim

  1. 1Cây cọc thứ ba mươi mốt11 phút
  2. 2Một trăm mười tám nền nhà10 phút đọc
  3. 3Ba ngọn đèn dưới mặt nước11 phút đọc
  4. 4Người không có tên10 phút đọc
  5. 5Cái tù và còn treo10 phút đọc
  6. 6Cuộc điện thoại đêm đóng dòng10 phút đọc
  7. 7Người đào trong bùn10 phút đọc
  8. 8Ba hồi từ phía gò đình10 phút đọc
  9. 9Gò đình lúc trời sáng9 phút đọc
  10. 10Tệp số bốn mươi bảy10 phút đọc

Về truyện này

Mùa hồ cạn ở làng Tràng Lim là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →