Chương 6: Cuộc điện thoại đêm đóng dòng
Tệp số 24. Năm giờ mười sáng. Hiên nhà o Hạp. Mưa không có. Tiếng một người đàn ông nói điện thoại, nói nhỏ.
Đêm ấy không ai ngủ lại được. Sau ba hồi tù và, cả đoàn cầm đèn pin chạy ra hiên, rọi xuống lòng hồ. Ánh đèn pin chỉ đi được vài chục mét rồi tan vào bóng tối. Không thấy gì, không nghe gì nữa. Bờm đòi cho flycam bay lên bằng camera nhiệt, nhưng con máy dự phòng của cậu để ở Hà Nội. Hạp ở trong phòng với ông nội, cửa đóng. Tiếng khóc của ông Cưởng tắt dần, thành tiếng nấc, rồi im.
Cái tù và không còn trong phòng. Không còn ở hiên, ở sân, ở bất cứ đâu trên mỏm đồi. Cửa sổ phòng Nghiên mở ra phía hồ, bên dưới là một con dốc đất dựng đứng, cao gần bốn mét. Trên con dốc ấy, sáng ra, Bờm tìm thấy một vệt trượt dài, và ở chân dốc, trên đất bùn, một hàng dấu chân trần nhỏ đi về phía tây.
Năm giờ sáng, Trưng ngồi một mình ngoài hiên gọi điện thoại. Thinh nằm trong phòng nghe tiếng anh qua vách ván. Anh nói rất lâu, rất khẽ, có lúc im lặng gần một phút rồi mới nói tiếp. Có lúc anh nói: "Chú ơi, bố cháu mất rồi, chú nói thì cũng không làm hại ai được nữa đâu." Có lúc anh chỉ nói: "Vâng. Vâng. Vâng."
Bảy giờ, anh gõ cửa phòng Nghiên.
– Chị Nghiên. Em có chuyện phải nói với chị. Thinh biết rồi.
Nghiên nghe Trưng kể chuyện cha anh, không ngắt lời câu nào. Nghe xong chị im lặng một lúc, mắt nhìn Trưng như nhìn một người mới gặp.
– Ba phim với nhau mà anh giấu chị.
– Em giấu vì sợ chị quay. – Trưng nói thẳng. – Giờ thì em không giấu nữa. Chị quay cũng được. Bố em cũng có phần.
Người anh vừa gọi điện là chú Toản, đồng nghiệp cũ của bố anh, năm chín lăm cũng làm ở đầu mối Khe Lim, giờ đã tám mươi, sống ở Vinh. Mấy năm trước Trưng hỏi, chú bảo không nhớ. Sáng nay Trưng nói ra hai chữ "tù và", chú im lặng rất lâu, rồi chú kể.
Đêm mười bốn tháng Mười năm chín lăm, bão vào sớm hơn dự báo hai ngày. Lũ từ thượng nguồn đổ về. Kế hoạch đóng cống dẫn dòng để tích nước là ngày mười sáu, nhưng ban chỉ huy công trường quyết định đóng ngay đêm đó, để giữ lũ lại trong lòng hồ, cắt lũ cho hàng chục xã dưới xuôi đang mùa gặt. Theo quy trình, trước khi đóng dòng phải có giấy xác nhận của địa phương rằng lòng hồ đã sạch người. Giấy ấy xã đã gửi từ ngày mười, có chữ ký của trưởng ban di dân. Đêm đó, chỉ cần gọi điện hỏi lại cho chắc.
Người trực ca vận hành đêm đó là kỹ sư Lã Khắc Dụng, ba mươi tám tuổi.
Chín giờ tối, trước khi ra lệnh đóng, bố Trưng lên đỉnh đập cầm ống nhòm nhìn về phía lòng hồ. Mưa đã ngớt. Làng Tràng Lim tối om, không một ánh đèn, đúng như phải thế. Nhưng xa về phía tây, chỗ khúc sông cũ, có một đốm sáng. Một ngọn đèn dầu.
Ông gọi điện thoại về ủy ban xã. Người nghe máy trực ban đêm ấy là trưởng ban di dân.
– Chú Toản nói, – Trưng kể, giọng đều đều như đọc lại một biên bản, – bố em kể với chú vào một lần say rượu, mười mấy năm sau. Bố em hỏi: phía tây có đèn, có người không. Bên kia nói: chỗ đó là Bãi Sậy, lò than bỏ, người đốt than đi hết từ tháng trước rồi, chắc cái lò còn cháy âm ỉ. Bố em hỏi lại lần nữa: anh chắc không. Bên kia nói: tôi đi từng nhà, tôi ký giấy, tôi chắc.
– Rồi bố anh đóng. – Nghiên nói.
– Bố em đóng. – Trưng nói. – Đúng quy trình. Có giấy xác nhận, có điện thoại hỏi lại. Không ai bắt lỗi bố em được câu nào. Hai mươi bốn năm sau bố em chết, vẫn hỏi "có nghe tù và không".
Thinh ngồi ở góc phòng, ôm đầu gối. Cô nghĩ tới lời mệ Sâm: Đêm đó tui nằm chờ tới sáng.
Tám giờ, Hạp mở cửa phòng ông nội. Ông Cưởng đã dậy, đã thay áo sơ mi, đã chải tóc. Ông ngồi ở bàn uống nước ngoài hiên như mọi sáng, chén chè xanh trước mặt, nhưng không uống. Ông nhìn Trưng đi lại phía mình, và Thinh thấy ông biết. Ông biết từ hôm qua, từ câu "eng hỏi như người biết chuyện".
– Eng là con ông Dụng. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
– Dạ.
– Mặt eng giống. – Ông Cưởng cầm chén chè lên, rồi đặt xuống. – Ông Dụng cao hơn eng. Đêm đó tui không thấy mặt ông. Tui chỉ nghe giọng. Giọng còn trẻ. Hỏi tới hai lần, lần sau run.
Nghiên làm một dấu tay. Trưng do dự một giây, rồi nâng máy quay lên vai. Ông Cưởng nhìn cái máy quay.
– Quay đi. – Ông nói. – Ba mươi mốt năm rồi. Quay đi.
Hạp đứng ở cửa, định nói gì, rồi thôi.
Ông Cưởng kể. Lần này ông không nhìn ra phía tây. Ông nhìn vào cái chén chè.
Năm chín lăm, xã Sơn Lim được giao dời ba làng ra khỏi lòng hồ. Làng Tràng Lim của ông là làng lớn nhất, xa nhất, khó nhất. Tỉnh hứa: xã nào dời xong trước thời hạn thì được khen, được ưu tiên vốn làm đường, làm trường. Ông Cưởng là trưởng ban. Ông ba mươi chín tuổi, đã làm cán bộ xã mười lăm năm, người ta nói qua đợt này ông sẽ lên phó chủ tịch.
Ông làm ngày làm đêm. Một trăm mười tám hộ, đi từng nhà, ghi từng người, lo từng cái chuồng trâu, từng cái mả tổ cần bốc. Đầu tháng Mười, làng Tràng Lim dời xong, sớm nhất xã. Chỉ còn Bãi Sậy.
– Bãi Sậy không phải người làng. – Ông nói. – Không có tên trong danh sách. Theo giấy tờ thì Bãi Sậy không có ai ở. Mà giấy xác nhận lòng hồ sạch người phải nộp ngày mười, trễ một ngày là cả xã mất khen. Sáu nhà Bãi Sậy đi rồi. Nhà mụ Sậm thì đóng cửa. Tui đứng ngoài ngõ gọi ba tiếng, không ai thưa. Tui không vô. Tui về ký giấy.
– Ông không vào. – Trưng nói từ sau máy quay.
– Tui không vô. – Ông Cưởng lặp lại. – Vì tui sợ vô thì thấy mụ ngồi trong đó.
Gió thổi qua hiên, lật một trang sổ tay của Nghiên trên bàn.
– Đêm mười bốn, tui trực ở ủy ban. Điện thoại reo lúc chín giờ. Ông Dụng hỏi phía tây có đèn. Tui nói lò than. Tui nói tui chắc. – Ông ngẩng lên nhìn Trưng. – Eng biết vì răng tui nói rứa không? Vì tui đã ký giấy. Tui nói có người là tui nhận tui ký láo. Cả xã mất khen. Tui mất chức. Mà tui còn nghĩ: chắc là lò than thật. Chắc là mụ đi rồi. Người ta nói dối người khác được một, nói dối mình được mười.
Thinh nhìn tay ông. Ngón tay ông bấu vào mép bàn gỗ, trắng bệch ở các đốt.
– Tui cúp máy. Tui ngồi một mình ở ủy ban, nghe mưa. Mười một giờ tui không chịu được. Tui mặc áo mưa, đi bộ xuống làng cũ. Ba cây số. Tới đình, nước đã vô ruộng. Tui lội lên gò, gỡ cái tù và xuống. – Ông dừng lại. – Đứng ở cổng đình nhìn về phía tây, tui thấy cái đèn. Một cái. Nhà mụ Sậm.
– Ông có thổi không? – Nghiên hỏi. Giọng chị khàn hẳn.
Ông Cưởng lắc đầu. Rất chậm.
– Tui cầm nó lên tới miệng. Tui đứng rứa, cầm rứa. Tui nghĩ, thổi lên thì cả đồi bên tê nghe. Cả làng biết. Sáng mai xã biết, tỉnh biết, cái giấy tui ký là giấy láo. Tui nghĩ, nước lên chậm, mụ thấy nước thì mụ tự chạy, mụ ở bãi sông mười năm, mụ biết nước. Tui nghĩ, chắc mụ đi rồi, đèn đó là đèn mụ quên tắt. – Ông nhắm mắt. – Tui nghĩ đủ thứ. Đứng ở đó chừng nửa tiếng. Rồi tui treo cái tù và lên lại cái móc. Rồi tui đi về.
Không ai nói gì.
– Đêm đó nước lên hai mét trong một giờ. – Ông Cưởng nói. – Sáng ra Bãi Sậy chìm mất. Đình chìm tới mái. Tui không bao giờ xuống lại đó nữa. Năm sau tui mua cái tù và mới, tui nói cái cũ nứt rồi, bỏ rồi, để không ai lặn xuống tìm. Tui nhận bằng khen. Tui không lên phó chủ tịch, vì tui xin nghỉ. Ba mươi mốt năm tui lau cái bằng khen, năm mô cũng lau, để nhớ.
Ông mở mắt ra.
– Hết rồi. Tắt máy đi eng.
Trưng không tắt máy ngay. Anh đứng đó thêm mười giây, máy quay vẫn chĩa vào ông già. Rồi anh hạ máy xuống, và Thinh thấy mắt anh đỏ hoe.
Hạp là người đầu tiên cử động. Cô đi tới, ngồi xuống cạnh ông, không nói gì, chỉ đặt tay lên lưng ông. Ông Cưởng không quay sang nhìn cháu.
Gần trưa, Hạp tìm Nghiên ở cuối hiên. Thinh đang ngồi gần đó, cuộn dây micro, và nghe hết.
– Chị Nghiên. Tui xin chị. – Hạp nói. Giọng cô không run, nhưng hai tay cô nắm chặt vào nhau. – Chị đừng phát đoạn đó. Ông tui bảy mươi tuổi rồi. Ông tui làm cán bộ cả đời, cả thôn kính ông. Chị phát ra thì người ta đi ngang nhà tui người ta chỉ trỏ. Ông tui sống sao được.
Nghiên không trả lời ngay. Thinh biết Nghiên đang nghĩ gì, vì cô đã làm với chị đủ lâu: hội đồng chấm quỹ, câu "đẹp mà không có xung đột", hai lần trượt, khoản nợ thuê thiết bị chưa trả. Và đoạn phim vừa quay sáng nay, một ông già nhìn vào chén chè kể lại đêm ông không thổi tù và, là thứ mà người làm phim tài liệu cả đời mong có một lần.
– Chị chưa hứa được với em. – Cuối cùng Nghiên nói. – Nhưng chị hứa chị chưa làm gì khi chưa hỏi ông và hỏi em.
Hạp nhìn chị rất lâu, rồi gật đầu, rồi đi vào trong.
Chiều hôm đó, ông Cưởng ngủ trưa rất lâu. Bốn giờ ông dậy, đi ra vườn sau. Thinh thấy ông đứng dưới gốc mít, nhìn lên tán lá như tìm cái gì. Năm giờ Hạp đi chợ thôn mới mua đồ nấu cơm tối. Cả đoàn ngồi trong phòng Nghiên xem lại tư liệu, cãi nhau khẽ khàng về việc có nên báo cho chính quyền chuyện ba người chết dưới Bãi Sậy hay chưa, khi chưa có gì trong tay ngoài lời kể của một ông già và mấy đoạn phim không ai tin.
Sáu giờ, trời chạng vạng. Hạp về, xách giỏ đồ ăn, gọi ông. Không có tiếng trả lời.
Phòng ông trống. Giường ông gấp chăn gọn gàng. Cây gậy tre dựng ở góc. Cái bằng khen trong khung kính, mà ông mang theo xuống homestay từ ngày đoàn tới, đặt úp mặt xuống bàn.
Trong cái nhà kho nhỏ sau bếp, chỗ treo cuốc xẻng, thiếu một cái xẻng và cái đèn bão.
Hạp chạy ra hiên. Thinh chạy theo. Trên lòng hồ, ánh chạng vạng tím sẫm đã gần tắt hẳn. Và xa về phía tây, trên bãi bùn đã se mặt sau hai ngày xả nước, theo đúng vệt ván của đoàn hôm qua, có một đốm sáng vàng nhỏ, đung đưa, đi rất chậm, đi về phía Bãi Sậy.
— Hết chương 6 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe