Chương 2: Một trăm mười tám nền nhà
Tệp số 11. Năm giờ năm mươi sáng. Trên gò đình. Không gió.
Sáng hôm sau, cả đoàn xuống gò đình từ lúc trời còn xám. Không ai bàn trước, nhưng không ai ngủ được quá năm giờ. Bờm đi đầu, cầm đèn pin dù trời đã đủ sáng, vừa đi vừa nói to, giọng to hơn mức cần thiết, kể chuyện con mèo nhà cậu ở Hà Đông biết mở tủ lạnh.
Hàng dấu chân vẫn còn đó.
Đứng trên bậc gạch cao nhất của gò đình nhìn xuống phía tây, Trưng đếm được bốn mươi hai dấu. Chúng nằm thành một đường gần như thẳng, cách đều, bước ngắn, bàn chân nhỏ hằn sâu vào lớp bùn đen. Chỗ gần vũng nước, dấu chân mờ, đầy nước rỉ. Càng lại gần gò, dấu càng rõ, rõ tới mức thấy được cả năm đầu ngón, ngón cái hơi choãi ra như chân người quen đi đất. Dấu cuối cùng nằm trên bậc gạch thứ ba, một nửa bàn chân in bùn lên gạch, bùn đã khô thành vảy.
Trưng quay chậm từng dấu. Nghiên đứng sau anh, không chỉ đạo câu nào.
Bờm thử bước xuống bãi bùn để đo. Chân phải cậu vừa đặt xuống đã lún tới bắp chân, cậu chới với, Trưng phải túm cổ áo lôi lên. Đôi giày vải của cậu mất một chiếc, cắm lại trong bùn, rồi từ từ chìm mất như có ai kéo xuống. Cả bốn người đứng nhìn chỗ chiếc giày vừa biến mất, không ai cười.
– Một đứa bé hai chục cân, – Trưng nói, – đi trên chỗ này cũng phải lún tới đầu gối. Chứ không phải để lại cái dấu nông thế kia.
– Thế anh bảo nó là gì?
Trưng không trả lời Nghiên. Anh tắt máy, thay pin.
Ông Cưởng xuống lúc bảy giờ, như đã hẹn, mặc áo sơ mi khác, vẫn là phẳng. Nghiên dẫn ông lên gò, chỉ cho ông xem hàng dấu chân, quan sát nét mặt ông. Thinh thì không nhìn mặt ông. Cô đeo tai nghe, cần micro chĩa về phía ông, và cô nghe thấy hơi thở của ông. Nó ngắt quãng một nhịp, như người vấp chân trên bậc cửa.
– Rái cá. – Ông nói.
– Rái cá có năm ngón như người hả ông?
– Rái cá thì năm ngón. – Ông quay đi. – Mà thôi, mấy cái ni đừng quay. Người ta coi phim lại tưởng làng tui có ma. Làng tui lành, ba mươi mốt năm nay lành.
Nghiên mỉm cười, gật đầu, rồi khi ông đi trước, cô làm một dấu tay với Trưng. Trưng đã quay xong từ trước.
Buổi sáng hôm ấy dành cho cuộc phỏng vấn dài. Nghiên muốn ông Cưởng đi hết làng một lượt nữa, lần này chậm, dừng ở mỗi nền nhà, kể về người từng sống ở đó. Ông Cưởng thích việc này. Thinh nhận ra điều đó qua giọng ông: càng đi giọng ông càng ấm, càng chậm, ông nhớ cả những chi tiết vụn vặt nhất. Nhà ông Hàn Tạo có con chó vàng biết đi chợ một mình, ngậm cái giỏ. Nhà mệ Tư Cúc bán bún, sáng nào cũng gánh qua đình, mỗi tô bún hồi đó năm trăm đồng. Ông giáo Lĩnh dạy cả làng biết chữ, mùa lũ năm tám mươi ba ông bơi qua sông cõng từng đứa học trò về. Bác Thêm thợ mộc đóng cái hương án cho đình, chạm mười hai con rồng mà không con nào giống con nào.
– Ông nhớ hết một trăm mười tám nhà ạ?
– Một trăm mười tám. – Ông vỗ vào túi áo, chỗ cây bút bi. – Hồi đó tui đi từng nhà, ghi tên từng người, già trẻ lớn bé, ghi cả con trâu con bò. Ba lần kiểm. Ngày dời đi tui đứng ở bến chợ đếm từng thuyền. Không sót một người.
Lúc ấy họ đang đứng ở cuối đường cái làng, phía tây gò đình, chỗ đất bắt đầu ẩm và mềm. Con đường đi thêm chừng hai trăm mét nữa thì chạm mép vũng nước xám, rồi chui xuống.
– Thế bên kia, chỗ con đường chui xuống nước, có nhà nào không ông? – Trưng hỏi. Anh không nhìn ông Cưởng, anh nhìn qua kính ngắm.
– Bên tê là bãi sông. – Ông Cưởng nói. – Đất bãi, không ai ở. Có cái chuồng trâu của hợp tác, mấy cái lò than.
– Lò than của ai ạ?
– Của… người ở nơi khác tới đốt than thuê. Họ đốt rồi họ đi.
– Bãi đó có tên không ông?
Ông Cưởng không trả lời ngay. Ông lấy cây bút bi trong túi áo ra, bấm một cái, rồi bấm lại một cái, rồi cất vào.
– Bãi Sậy. – Ông nói. – Ngày xưa sậy mọc cao hơn đầu người.
Thinh thấy Trưng khẽ hạ máy quay xuống một chút, rồi nâng lên. Đó là lần duy nhất trong ba phim làm cùng, cô thấy tay anh run.
Chiều hôm ấy, Bờm làm bản đồ. Cậu cho flycam bay theo những đường song song, chụp hàng trăm tấm ảnh từ trên cao, rồi về máy tính ghép lại thành một tấm ảnh lớn của cả lòng hồ, nhìn rõ từng viên gạch. Đó là việc cậu được học ở trường, và đó là lúc cậu không nói đùa. Ba tiếng sau cậu gọi cả đoàn vào phòng.
– Em đếm nền nhà theo bản đồ. – Cậu chỉ lên màn hình, nơi cậu đã chấm những dấu đỏ nhỏ lên từng ô nền. – Bờ đông tới gò đình, rồi từ gò đình ra tới chỗ đất ẩm. Đúng một trăm mười tám. Ông Cưởng nhớ chuẩn.
– Thế thì sao?
– Thì đây. – Bờm kéo màn hình sang phải, ra phía tây, phía vũng nước. – Chỗ đường làng chui xuống nước, nước ở đó nông, em đoán chưa tới một mét. Em chỉnh màu ảnh, lọc bớt ánh phản chiếu. Chị nhìn.
Dưới lớp nước xám, mờ mờ như nhìn qua lớp kính mờ, có những đường thẳng. Những đường thẳng con người làm ra. Bảy ô vuông nhỏ, xếp lộn xộn trên một khoảnh đất cong theo khúc sông cũ. Ô lớn nhất ở giữa, có một vệt tròn bên cạnh như miệng giếng.
– Chuồng trâu với lò than. – Nghiên nói.
– Lò than đốt kiểu đắp đất, chị ạ, nó tròn như cái mả. Em tra rồi. Mấy cái này vuông. Mà chuồng trâu thì không có giếng.
Nghiên im lặng một lúc. Rồi cô nói, nửa với cả đoàn, nửa với chính mình:
– Hai lần trượt quỹ, hội đồng đều chê một câu: phim của chị đẹp mà không có xung đột. – Cô gõ ngón tay lên màn hình, lên ô vuông lớn nhất. – Đây là xung đột.
Trưng đứng dậy đi ra hiên, không nói gì.
Tối đó Hạp nấu nồi lẩu cá, mời cả đoàn ăn với nhà cô. Ông Cưởng không ra ăn, nằm trong phòng ở dãy sau, nhờ Hạp nói là đau lưng. Từ hôm có đoàn, Hạp giữ ông ở lại đây, không cho ông đi đường đồi ban đêm. Hạp uống hai chén rượu ngô, rồi uống thêm chén thứ ba, và lần đầu tiên cô kể về mình.
Cha cô chết trên cái hồ này năm hai nghìn lẻ năm. Cô mười tuổi. Ông đi kéo lưới đêm như mọi đêm, trời lặng, hồ phẳng như mặt chiếu, vậy mà sáng ra người ta chỉ thấy chiếc thuyền nan trôi lững lờ giữa hồ, lưới vẫn gấp gọn trong khoang. Ba ngày sau xác ông nổi lên ở phía tây, đúng chỗ bây giờ là vũng nước xám.
– Người thôn tui nói cái hồ ni bắt người. – Hạp nói, xoay xoay cái chén. – Mấy năm đầu, năm mô cũng có người chết đuối. Toàn chết ở phía tây. Toàn chết vào đêm nước lặng.
– Chị tin à? – Bờm hỏi.
– Tui không tin. – Hạp cười, rót thêm rượu. – Tui chỉ không đi thuyền ra phía tây vào ban đêm. Rứa thôi. Mà tui đang rao bán cái nhà ni đây. Mùa hạn năm ni, khách nó đến coi làng cũ đông, bán được giá. Bán xong tui vô Sài Gòn với chồng.
– Ông có biết không chị?
– Ông chưa biết. – Cô đặt chén xuống. – Ông thương cái hồ ni lắm. Ông nói làng mình cũng là ông dời, cái hồ ni cũng như con ông. Ông kể với đoàn chuyện bằng khen chưa? Ông treo nó trên đầu bàn thờ, ngay dưới ảnh bà nội tui. Ba mươi mốt năm, năm mô cũng lau.
Mười giờ, mọi người đi ngủ. Phòng của Thinh và Nghiên ở dãy trước, cửa sổ nhìn thẳng xuống lòng hồ. Thinh không ngủ được. Cô nằm nghe cái im của căn phòng gỗ: tiếng gỗ co lại khi đêm xuống lạnh, tiếng tắc kè trên mái, tiếng Nghiên thở đều. Gần một giờ sáng cô mới thiếp đi.
Cô tỉnh dậy vì có tiếng gõ cửa. Không phải gõ, mà là ai đó cào nhẹ vào cánh cửa gỗ, rồi tiếng Hạp thì thầm:
– O Thinh. O Nghiên. Dậy coi.
Đồng hồ điện thoại chỉ hai giờ năm phút. Hạp đứng ngoài hiên, mặc áo khoác, tóc buộc vội, tay cầm cái đèn pin không bật. Trưng và Bờm đã ở đó, Bờm quấn chăn quanh người như cái kén.
– Coi phía tây. – Hạp nói.
Thinh nhìn theo hướng tay Hạp.
Lòng hồ dưới trăng hạ tuần là một khoảng đen nhạt, chỉ thấy lờ mờ cái gò đình như một cái lưng trâu. Xa hơn nữa, phía tây, chỗ vũng nước xám, có ánh sáng.
Ba đốm sáng nhỏ, vàng đục, run run, cái thì cao cái thì thấp, như ba ngọn đèn dầu đặt trong ba ô cửa sổ. Ánh sáng ấy không phản chiếu trên mặt nước như đèn của thuyền câu. Nó không nằm trên mặt nước. Nó nằm dưới, nhòe nhoẹt, lung lay theo nhịp sóng, như người nhìn đèn qua đáy một cái chậu.
– Có người đi bắt cá đêm không chị? – Nghiên hỏi, giọng nhỏ.
– Đèn bắt cá thì là đèn pin, đèn bình ắc quy, trắng. – Hạp nói. – Cái nớ là đèn dầu. Mà nằm dưới nước.
Trưng đã chạy vào phòng lấy máy quay. Bờm đứng im trong cái chăn. Thinh cầm máy thu, đặt lên lan can, chĩa micro về phía tây, đeo tai nghe vào.
Tệp số 14. Hai giờ bảy phút sáng. Hiên nhà o Hạp, hướng tây.
Trong tai nghe chỉ có tiếng côn trùng. Rồi, rất xa, rất mờ, một tiếng kẽo kẹt. Tiếng một cánh cửa gỗ cũ mở ra trên bản lề khô.
– Chỗ đó là chỗ bảy cái nền nhà dưới nước. – Bờm nói khẽ. Không ai hỏi cậu đang nói gì.
Hạp đứng im một lúc lâu. Rồi cô nói, giọng như nói một mình:
– Ba mươi mốt năm tui ở đây. Ba mươi mốt năm phía tây không có đèn.
Đằng sau họ, ở dãy nhà sau, cửa phòng ông Cưởng đóng im lìm. Nhưng đèn trong phòng ông đã bật, và qua khe ván, Thinh thấy một cái bóng người đứng im bên cửa sổ, nhìn về cùng một hướng.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe