Chương 1: Cái này màu gì
Người đàn ông mặc sơ mi xám đứng ở cửa xưởng nhuộm, nước mưa chảy thành dòng từ mép ô xuống mũi giày, và hỏi Nhiễu một câu mà đứa trẻ lên ba cũng trả lời được.
– Chị nhìn giúp tôi, cái này màu gì?
Nhiễu đang đứng trên bục gỗ cạnh nồi nhuộm số hai, tay cầm que tre dài quá đầu người, đảo một mẻ vải lanh xanh rêu. Cô không xuống.
– Xưởng đóng cửa rồi anh ạ. Mai bảy giờ bà chủ mới nhận hàng.
– Tôi không gửi hàng. Tôi chỉ hỏi màu.
Anh ta giơ lên một mảnh vải bằng bàn tay, kẹp trong túi ni lông.
Nhiễu dựng que tre vào thành nồi, lau tay vào cái tạp dề cao su, bước xuống. Mấy cô bán vải chợ Rồng vẫn hay cầm mẩu vải sang nhờ so, trả công bằng gói xôi. Nhưng chưa ai đến lúc chín giờ tối, mặc sơ mi là phẳng, đi giày da trên cái nền xi măng lúc nào cũng ướt nước xút.
Cô cầm túi ni lông ra chỗ cửa sổ phía sông, nơi bà Sáu cho lắp riêng một bóng đèn ánh sáng ban ngày để soi màu, rồi mới rút mảnh vải ra.
Đỏ. Một thứ đỏ đậm, hơi ngả về sắc mận chín, vải cotton dệt chéo, mặt vải mịn, cầm lên nặng tay. Cô áp mảnh vải vào mặt trong cổ tay trái, chỗ có buộc một sợi chỉ đỏ đã sờn, nhìn một lúc lâu.
– Màu đỏ – cô nói. – Nhưng chắc anh không đi mưa đến đây để nghe em bảo là màu đỏ.
– Không.
– Thế anh muốn hỏi gì?
Người đàn ông gấp ô, dựng vào cột. Lúc này cô mới nhìn rõ mặt anh ta: chừng ba mươi, gò má cao, tóc cắt ngắn, đôi mắt rất đen, nhìn đồ vật lâu hơn người thường một chút, như đang đếm. Anh ta rút từ túi áo trong ra một mảnh vải nữa, cũng màu đỏ, cũng gấp đôi trong túi ni lông.
– Hai mảnh này có cùng một màu không?
Nhiễu đặt hai mảnh cạnh nhau dưới bóng đèn. Cô kéo sợi chỉ đỏ trên cổ tay xuống sát mép vải, đưa cả ba lại gần mắt, rồi lùi ra một sải tay. Cô lật mặt trái, nghiêng chúng về phía cửa sổ.
– Dưới đèn này thì gần như giống – cô nói. – Mảnh bên phải vàng hơn một tí. Tí thôi, người thường không thấy. Anh mang ra chỗ bóng vàng kia xem.
Cô chỉ cái bóng đèn tròn sợi đốt treo trên bàn ăn cơm của thợ, cái bóng bà Sáu giữ lại từ hồi chưa có điện lưới ổn định. Người đàn ông cầm hai mảnh vải đi về phía đó. Cô đi theo. Dưới thứ ánh sáng vàng như nước chè ấy, mảnh bên trái vẫn là thứ đỏ mận chín. Mảnh bên phải chuyển sang một màu đỏ gạch, đục, như vải phơi nắng lâu ngày.
– Đấy – Nhiễu nói. – Anh thấy chưa?
Anh ta nhìn hai mảnh vải rất lâu. Rồi anh ta nói, giọng đều đều:
– Chị nói tiếp đi. Chị thấy thế nào thì tả như thế.
– Mảnh bên trái là đỏ thật. Đặt dưới đèn nào cũng là nó. Mảnh bên phải là đỏ giả, nói thế cho dễ hiểu. Dưới đèn trắng thì nó đóng vai đỏ được, sang đèn vàng nó lộ ra. – Cô gõ ngón tay vào mảnh bên phải. – Lô này người ta nhuộm bằng thuốc khác. Pha cho khớp dưới một thứ đèn thôi. Thợ mình gọi là màu hai mặt.
– Tại sao chị biết là thuốc khác, mà không phải do nhuộm non tay?
– Nhuộm non tay thì lệch đều. Dưới đèn nào cũng lệch. Cái này dưới đèn này đúng, sang đèn kia sai, tức là cái gốc nó khác. Như hai người hát cùng một nốt, một người giọng thật, một người giọng bắt chước. Hát nốt ấy thì giống. Hát sang nốt khác là biết ngay.
Lần này, khóe miệng anh ta động đậy, như suýt cười.
– Chị học ở đâu?
– Em không học ở đâu. Em lớn lên ở xưởng nhuộm.
Nhiễu trả hai mảnh vải vào túi, đưa lại cho anh ta. Mưa đầu đông rơi lộp độp trên mái tôn. Nồi số hai sau lưng cô đã sủi tăm.
– Anh hỏi xong rồi thì em làm tiếp. Bà chủ em không tính tiền soi màu, nhưng anh ra cửa nhớ đóng hộ em cái then, gió lùa vào thì nồi nhiệt không lên.
– Chị tên gì?
– Nhiễu.
Anh ta nhíu mày.
– Nhiễu là vải nhiễu, anh ạ – cô nói luôn cho đỡ phải giải thích hai lần. – Bố mẹ em làm thợ dệt, đặt tên con theo vải. Em gái em tên Lĩnh.
– Tôi tên Viễn – anh ta nói. – Vũ Hoài Viễn.
Que tre trong tay Nhiễu dừng giữa chừng.
Ở đất Thành Nam, không ai không biết họ Vũ ở Vũ Thịnh. Nhà máy dệt nhuộm lớn nhất vùng, hai nghìn công nhân, ống khói trắng sọc đỏ nhìn từ cầu Đò Quan cũng thấy. Và trong căn nhà cấp bốn của bố con Nhiễu ở ngõ sau chợ, cái tên Vũ Thịnh không được phép nói thành tiếng đã mười lăm năm nay.
– Anh là người nhà Vũ Thịnh – cô nói, không phải hỏi.
– Tôi đang tạm điều hành nhà máy. Bố tôi bị tai biến, nằm viện từ tháng Tám.
– Thế thì anh có cả một phòng thí nghiệm màu, máy đo màu, tủ soi màu bốn bóng đèn. Anh đến xưởng bà Sáu hỏi em làm gì?
Viễn cởi cúc tay áo, xắn lên một nấc.
– Tám nghìn mét vải đỏ của tôi đang nằm trong kho một nhà bán lẻ ở Nhật. Họ bảo màu sai. Phòng thí nghiệm của tôi bảo màu đúng. Máy đo màu của tôi bảo màu đúng. Tủ soi của tôi bảo màu đúng. Bên mua hàng gửi trả mẫu về cho tôi, tôi mang đi hỏi bốn người, bốn người bảo đúng. Chị là người thứ năm. Chị bảo sai.
– Bốn người kia soi dưới đèn gì?
– Đèn của nhà máy.
– Thế thì họ không sai. Cái tủ ấy, anh về xem có đủ bốn bóng không.
Anh nhìn cô bằng cái nhìn đếm đếm ấy thêm một lúc. Rồi anh rút ví, lấy ra một tấm danh thiếp, đặt lên mép bàn gỗ, chỗ khô nhất.
– Tôi cần một người làm việc này ở nhà máy ba tháng. Lương gấp ba chỗ chị đang làm. Không phải để soi màu cho tôi. Để tìm xem ai đã đổi thuốc, và nhuộm lại cho tôi ba mươi hai nghìn mét còn lại trước hai mươi tháng Chạp.
– Em không làm cho Vũ Thịnh – Nhiễu nói.
– Tại sao?
– Vì em không thích – cô nói. – Anh đi đường cẩn thận, dốc đê trơn.
Cô quay về nồi số hai. Mẻ vải xanh rêu đã có một vệt loang nhạt ở mép, ngay chỗ cô bỏ que lâu quá. Cô đảo mạnh tay hơn.
Cô nghe tiếng chân anh ta đi ra cửa, tiếng ô bật. Rồi tiếng chân dừng lại.
– Chị Nhiễu.
Cô không quay lại.
– Cái màu đỏ ở mảnh bên trái – Viễn nói, giọng vẫn đều như đọc biên bản – là màu đỏ Thành Nam. Màu riêng của nhà máy tôi, hai mươi năm nay khách nước ngoài đặt hàng là đặt màu ấy. Trong hồ sơ của nhà máy, người pha ra màu ấy tên là Đỗ Văn Cửu. Sáng mai bảy giờ, xe nhà máy đỗ ở cổng chợ Rồng. Chị không lên cũng được.
Tiếng then cửa sập xuống. Tiếng mưa còn lại.
Nhiễu đứng yên trên bục gỗ, que tre trong tay, hơi nước phả vào mặt nóng rát. Cô nhìn xuống cổ tay mình. Sợi chỉ đỏ ấy là bố cô nhuộm, năm cô mười hai tuổi, đúng cái năm bố bị đuổi khỏi Vũ Thịnh. Ông nhuộm một con chỉ cuối cùng bằng chỗ thuốc còn lại trong cái lọ thủy tinh mang về từ nhà máy, buộc lên tay hai chị em mỗi đứa một vòng, bảo: "Đỏ này không phai. Lúc nào mắt con mỏi, nhìn nó mà không thấy đúng màu nữa, là phải nghỉ."
Sợi của Lĩnh đứt từ hồi em học lớp tám. Sợi của Nhiễu thì cô thay ba lần, lần nào cũng xin bố nhuộm lại. Năm ngoái tay bố run quá, không nhuộm được nữa. Sợi này là sợi cuối cùng.
Bà Sáu Thoan từ gian trong đi ra, khăn len quấn cổ, tay cầm chén nước vối.
– Ai đấy con?
– Người hỏi màu, bà ạ.
– Hỏi màu gì mà nói lắm thế? Bà nghe thấy chữ Vũ Thịnh.
Nhiễu nhấc mẻ vải lên. Vệt loang ở mép đã đều ra.
– Người nhà Vũ Thịnh, bà ạ. Muốn thuê con ba tháng.
Bà Sáu đặt chén nước xuống, cầm tấm danh thiếp lên, đưa ra xa mắt, đọc không ra, lại đặt xuống.
– Con định thế nào?
– Con bảo không làm.
– Ừ.
Bà ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ, xoa hai đầu gối. Bà là người duy nhất ở đất này nhận Nhiễu vào làm năm cô mười tám tuổi, khi các xưởng khác nghe tên bố cô là lắc đầu.
– Bố con dạo này thế nào?
– Tay vẫn run, bà ạ. Cầm đũa thì được, cầm bút không viết được nữa.
– Thuốc tháng này hết bao nhiêu?
Nhiễu không trả lời. Bà Sáu biết thừa. Tiền thuốc của bố, tiền học điều dưỡng của Lĩnh, lương xưởng nhuộm không bao giờ đủ, tháng nào cô cũng nhận thêm việc nhuộm khăn cho mấy đoàn chèo.
– Gấp ba – bà Sáu nói, như đọc được ý cô. – Thằng ấy bảo gấp ba phải không? Bà nghe thấy.
– Bà nghe hết thế thì còn hỏi con làm gì.
Bà cười, cái cười móm mém, rồi im. Lát sau bà nói, nhỏ như nói với cái nồi:
– Mười lăm năm trước, cả đất này bảo bố con mở van bồn xút cho người ta bị bỏng. Bà không tin. Bà biết bố con từ hồi nó mười bảy tuổi đi gánh nước thuê cho xưởng bà. Nó cẩn thận đến mức pha thuốc còn phải cân lại ba lần. Nhưng bà không tin thì được cái gì? Không ai hỏi bà.
– Bố con không bao giờ kể.
– Nó không kể, thì con phải đi mà xem. – Bà Sáu đứng lên, cầm chén nước vối, đi vào gian trong. – Xưởng bà ba tháng không có con thì bà gọi con bé Huệ sang. Nó vụng nhưng chịu khó. Mai con đi thì nhớ mang áo mưa, xe công nhân nhà máy mở cửa sổ suốt, lạnh lắm.
Đêm ấy, Nhiễu đạp xe về ngõ sau chợ lúc gần mười một giờ. Hàng bánh cuốn đầu ngõ đã dọn, chỉ còn mùi mỡ hành vương lại. Trong nhà, bóng đèn ở gian ngoài vẫn sáng. Bố cô ngồi ở cái bàn gỗ, trước mặt là ấm chè xanh và cái chén đã nguội, hai bàn tay đặt trên đùi, run nhè nhẹ như hai con chim nhỏ không chịu ngủ.
– Sao bố chưa ngủ?
– Đợi con.
Ông không bao giờ đợi cô. Ông đi ngủ lúc chín giờ, đều như cái đồng hồ, từ mười lăm năm nay.
– Con bé Huệ nhà bà Sáu chạy sang bảo bố – ông nói. – Có người nhà Vũ Thịnh đến xưởng tìm con.
Nhiễu ngồi xuống đối diện bố, rót chè vào chén của ông.
– Người ta mang hai mẩu vải đến hỏi màu, bố ạ.
– Vải gì?
– Đỏ Thành Nam. Một mẩu thật, một mẩu nhuộm bằng thuốc khác.
Hai bàn tay trên đùi ông dừng run một nhịp. Chỉ một nhịp, rồi lại run, nhưng Nhiễu thấy. Ông nâng chén chè lên bằng cả hai tay, uống một ngụm, đặt xuống. Nước chè sóng ra mép chén.
– Thế con bảo người ta thế nào?
– Con bảo màu hai mặt. Pha cho khớp dưới đèn trắng, sang đèn vàng là lộ.
Ông gật đầu, chậm rãi. Ông nhìn ra cửa sổ, nơi bên kia mấy dãy mái nhà, ống khói trắng sọc đỏ của Vũ Thịnh vẫn nhấp nháy đèn báo hiệu trên đỉnh, đỏ, tắt, đỏ, tắt.
– Người ta mời con về đấy làm – Nhiễu nói. – Ba tháng. Lương gấp ba.
– Con nhận à?
– Con chưa nhận.
Ông im. Năm cô mười sáu tuổi, cô bảo muốn thi lớp kỹ thuật dệt nhuộm của Vũ Thịnh, ông đập bàn vỡ cái chén. Lần này ông chỉ nhìn sợi chỉ đỏ trên cổ tay cô.
– Đứa nào nói với con là màu ấy tên đỏ Thành Nam?
– Anh ta.
– Ừ. – Ông cười, một cái cười rất ngắn, không có tiếng. – Hồi bố pha ra nó, nó không có tên. Bố gọi là đỏ số mười bốn, vì là lần pha thứ mười bốn mới được. Ông Chương, bố cái thằng ấy, đặt tên là đỏ Thành Nam để in lên catalogue cho khách Tây. Hai mươi năm rồi mà vẫn bán được à?
– Vẫn bán được. Đơn bốn mươi nghìn mét, bố ạ.
Ông đứng dậy, đi vào buồng trong. Lúc ông quay ra, trong tay ông là một cái lọ thủy tinh nhỏ màu nâu, nút bần, bên trong còn một lớp bột đỏ mỏng như bụi phấn dưới đáy.
Ông đặt nó lên bàn, trước mặt cô.
– Đây là chỗ cuối cùng – ông nói. – Thuốc gốc. Bố mang về hôm bố đi. Mười lăm năm, bố mở nó ba lần, lần nào cũng chỉ lấy một nhúm nhuộm chỉ cho con. Còn chừng này.
– Bố đưa con làm gì?
– Để con mang theo. – Ông quay lưng, đi về phía buồng. – Mai con lên xe, nhớ mặc thêm áo. Xe công nhân Vũ Thịnh, từ thời bố, chưa bao giờ đóng được cửa sổ.
Cánh cửa buồng khép lại. Nhiễu ngồi một mình dưới bóng đèn tròn, nhìn cái lọ thủy tinh. Dưới thứ ánh sáng vàng như nước chè ấy, lớp bột đỏ dưới đáy lọ vẫn là thứ đỏ mận chín, không đổi đi một chút nào.
Và ở bên kia mấy dãy mái nhà, đèn báo hiệu trên đỉnh ống khói Vũ Thịnh vẫn nhấp nháy, đỏ, tắt, đỏ, tắt, như đang đợi một câu trả lời.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình