Chương 7: Hai mươi tám phòng của bà Quách
Văn phòng luật sư Kiều Văn Bằng ở tầng hai một dãy nhà tập thể cũ, cầu thang tối, tay vịn sắt hoen gỉ, cửa vào là một cánh cửa gỗ sơn xanh đã bong từng mảng. Bên trong có hai cái bàn, ba cái tủ sắt đựng hồ sơ, một cái quạt cây, một ông luật sư ngoài sáu mươi đeo kính hai tròng, mặc áo sơ mi cộc tay cài kín cổ. Chị Lệ giới thiệu tôi đến. Chị bảo ông Bằng từng giúp khách sạn chị đòi được một khoản tiền cọc mà ba luật sư khác bảo không đòi được.
Ông Bằng đọc tờ biên bản, phụ lục số một, giấy ủy quyền, hợp đồng gia công, điều lệ công ty, thư mời họp. Ông đọc chậm, không gạch chân, không ghi chép. Đọc xong, ông xếp lại thành một chồng, vuốt cho thẳng mép.
– Cô muốn nghe cái dễ nghe trước hay cái khó nghe trước?
– Cái khó nghe ạ.
– Cái khó nghe là: chữ ký hợp lệ, dấu hợp lệ, giấy ủy quyền do cô tự viết, viết rộng quá. "Ký các văn bản phát sinh". Cô không ghi giới hạn số tiền, không ghi loại văn bản nào không được ký. Người ta sẽ nói cô Diên làm đúng phạm vi ủy quyền.
Tôi gật đầu. Tôi đã biết.
– Cái dễ nghe hơn một chút. – Ông Bằng gõ ngón tay lên tờ phụ lục. – Một văn bản ký giữa thời gian ủy quyền, áp một khoản phí hồi tố cho ba năm trước, cho một hợp đồng đã sắp hết hạn, có lợi hoàn toàn cho một bên mà người ký thay cho bên kia lại sắp sang làm cho bên được lợi. Cái đó có căn cứ để yêu cầu tòa xem xét là vượt phạm vi ủy quyền, hoặc có xung đột lợi ích, và đề nghị tuyên vô hiệu. Có căn cứ. Không chắc thắng.
– Bao lâu ạ?
– Nhanh thì một năm. – Ông Bằng tháo kính, lau bằng vạt áo. – Còn cuộc họp. Điều lệ của cô, những vấn đề như thế này cần số phiếu đại diện quá bán vốn góp dự họp mới thông qua. Cô năm mươi, bên kia năm mươi. Không ai thông qua được cái gì. Ông ấy không lấy được máy của cô bằng cuộc họp. Nhưng ông ấy có thể kiện đòi nợ theo cái biên bản, xin áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với tài sản. Hai bên kiện nhau. Trong lúc kiện nhau, xưởng của cô sống bằng gì?
Tôi không trả lời được.
Ông Bằng đeo kính lại.
– Tôi sẽ soạn cho cô một văn bản gửi Đông Phong và các thành viên, phản đối biên bản và phụ lục, nêu lý do, yêu cầu cung cấp chứng từ. Gửi trước cuộc họp. Trong cuộc họp, cô không ký gì, không đồng ý gì, ghi biên bản đầy đủ ý kiến của cô. Đó là giữ thế. – Ông nói, rồi ngừng một chút. – Còn tôi nói thật với cô, như nói với con gái tôi: kiện là để giữ thế, không phải để sống. Muốn sống thì cô phải có khách. Khách của chính cô.
Ông lấy tôi hai triệu tiền tư vấn, đúng bằng con số văn phòng luật phố Huế lấy tôi ba năm trước, khi tôi mang bản hợp đồng góp vốn mười một trang đến nhờ đọc hộ.
Văn bản phản đối của ông Bằng dài bốn trang, gửi chuyển phát có báo phát cho Đông Phong, cho ông Khôn, cho Diên, vào sáng thứ Tư. Chiều thứ Năm, ông Khôn trả lời bằng một email ba dòng, lịch sự, ghi đã nhận, sẽ trao đổi tại cuộc họp. Diên không trả lời. Tôi mở trang cá nhân của Diên, thấy một tấm ảnh mới đăng: Diên đứng trước bốn cái máy là lô màu xanh lá trong một xưởng rộng gấp ba xưởng tôi, mặc áo sơ mi trắng, đeo thẻ nhân viên, cười. Không có chú thích nào.
Còn mười một ngày đến cuộc họp. Trong mười một ngày ấy, chín khách sạn của ông Khôn lần lượt mở lại, khách nội địa đi chơi sau những tháng ở nhà, đồ bẩn đi ra phố, chất lên những chiếc xe tải màu xanh lá, chạy về phía ngoại thành, không chiếc nào chạy về chân đê.
Tối hôm đó tôi ngồi trong văn phòng tôn với Toại. Tôi trải lên bàn một tờ giấy khổ to, chia làm chín ô, mỗi ô là một khách sạn của ông Khôn. Tôi biết tên khách sạn, địa chỉ, số phòng, số ga mỗi ngày, tên chị quản lý buồng phòng. Tôi không biết chủ nhà là ai. Tôi chưa bao giờ cần biết. Ông Khôn ngồi cạnh tôi trong mỗi buổi ký năm đầu tiên, rót trà, nhưng từ năm thứ hai thì Diên lo hết.
Toại cầm cây bút bi, điền vào từng ô.
– Cái này của nhà ông Phúc, ông ấy ở tầng trên cùng, hay ngồi đánh cờ tướng với ông bảo vệ. Cái này của hai vợ chồng bác Hậu, nhà bác ở Hàng Đường, khách sạn là nhà của bố mẹ bác để lại. Cái này chủ là một chị Việt kiều, chị ấy không ở Việt Nam, em trai chị ấy trông. Cái này…
Toại điền được bảy ô. Ô nào cũng kèm một chi tiết: thích ăn gì, hay ngồi đâu, có cháu học lớp mấy. Ba năm lái xe, nó biết các chủ nhà còn hơn tôi biết công nhân của tôi.
– Hai ô kia là khách sạn của công ty, không phải nhà người ta. – Toại nói. – Em chịu.
Tôi cầm tờ giấy, nhìn bảy ô đầy chữ của em trai tôi.
– Em dẫn chị đi gặp ai trước?
– Bà Quách. – Toại nói ngay. – Bà ấy khó nhất. Bà ấy gật thì mấy nhà kia gật.
Khách sạn của bà Quách hai mươi tám phòng, căn nhà ống năm tầng trên phố Hàng Bạc. Toại không đi cửa trước. Nó dẫn tôi vào một cái ngõ nhỏ cạnh nhà, bấm chuông cửa sau hai lần, đợi, rồi gọi to: "Bà ơi, cháu Toại xe ga đây ạ." Một lúc sau có tiếng dép lê trên cầu thang gỗ.
Bà Quách bảy mươi tư tuổi, tóc bạc búi củ hành, vẫn cặp kính lão trễ xuống sống mũi như ba năm trước. Bà nhìn Toại, rồi nhìn tôi, rồi mở cửa, không nói gì, quay lưng đi lên cầu thang. Chúng tôi đi theo bà lên tận tầng năm, lên sân thượng. Trên sân thượng căng bốn sợi dây phơi, trên dây là ga trắng, hai mươi mấy chiếc, bay phần phật trong gió tháng Mười.
– Khách sạn mở lại được hai tuần. – Bà Quách nói, tay kéo thẳng một chiếc ga. – Mới có bốn phòng có khách. Thằng Khôn bảo xưởng giặt mới của nó chưa nhận đơn nhỏ. Tôi tự giặt. Máy giặt nhà, phơi nắng. Như năm chín mươi hai.
Tôi kể. Tôi kể từ đầu, từ chồng ga thơm hoa nhài ở tầng hầm khách sạn cũ, đến tờ biên bản chín trăm triệu. Bà Quách không ngồi. Bà vừa nghe vừa phơi nốt mấy chiếc ga còn lại trong chậu. Đến khi tôi nói giá ga đôi tôi nhận từ Đông Phong là bảy nghìn, tay bà dừng lại trên sợi dây phơi.
– Bảy nghìn?
– Dạ, bảy nghìn. Trước đó là bảy nghìn rưởi, khi bà ký thẳng với cháu năm đầu.
Bà Quách đi xuống tầng bốn. Một lúc sau bà quay lên, tay cầm một xấp hóa đơn kẹp bằng cái kẹp gỗ phơi quần áo. Hóa đơn của Đông Phong, mỗi tháng một tờ, phí quản lý vận hành tách riêng, giặt là tách riêng. Dòng giặt là ga đôi ghi đơn giá mười hai nghìn.
– Mười hai nghìn một chiếc. – Bà nói, giọng đều. – Hai mươi tám phòng. Hai năm. Thế là mỗi chiếc ga, tôi trả thằng Khôn năm nghìn để nó cầm từ tay tôi đưa sang tay cô.
– Năm đầu bà ký thẳng với cháu thì không ạ. Từ năm thứ hai…
– Tôi biết đếm. – Bà Quách ngắt lời.
Bà ngồi xuống cái ghế nhựa dưới dây phơi. Gió thổi tấm ga trắng phồng lên sau lưng bà như một cánh buồm.
– Cô với nó cùng một công ty. – Bà nói. – Nó bốn mươi phần trăm, cô năm mươi. Bây giờ cô đến đây kể chuyện nó lừa cô. Tôi bảy mươi tư tuổi, tôi thấy nhiều người kể chuyện rồi. Tôi biết đâu hai người không đang cãi nhau chia tiền, rồi lôi tôi vào giữa.
– Bà nói đúng. – Tôi nói. – Bà không có lý do gì để tin cháu.
Bà Quách nhìn tôi qua cặp kính lão. Cái nhìn ấy giống hệt ba năm trước, ở buổi ký hợp đồng, như nhìn một chiếc ga soi lên cửa sổ.
– Tôi không đi xem xưởng đâu. Tôi già rồi, đi xa mệt. – Bà nói. – Thằng Khôn đang cho mấy khách sạn của nó gửi thử đồ sang cái xưởng mới ngoài kia. Cô mang đến đây cho tôi một chiếc ga cô giặt, và một chiếc ga cái xưởng mới ấy giặt. Hai chiếc. Rồi tôi xem.
Ra khỏi nhà bà Quách, Toại đi trước, tôi đi sau. Đến đầu ngõ, nó quay lại.
– Chị ơi. Bà ấy bảo em lần sau bấm chuông một lần thôi, bà ấy nghe được.
Tôi bật cười. Lần đầu tiên từ hôm ra viện.
Ba ngày sau, Toại đi giao đồ cho chị Lệ, cho phòng khám, rồi theo lịch ghé thu tiền mặt ở hiệu giặt sinh viên dưới ngõ và hai khách sạn nhỏ hay trả tiền mặt cuối tháng. Tôi đã cấm nó cầm tiền mặt. Nhưng hôm ấy cô Hến trông hiệu giặt ốm, không có ai khác đi, và Toại đứng trong văn phòng tôn, nhìn thẳng vào tôi, nói chị tin em một lần. Tôi nhìn nó. Tôi nhớ nó ngồi ăn hộp cơm một mình trên mái đê, cách cả xưởng mười mét. Tôi gật.
Tổng cộng bốn mươi triệu.
Chiều hôm ấy Toại không về. Điện thoại nó tắt. Đến tám giờ tối, một ông bảo vệ khách sạn phố cổ gọi cho tôi theo số dán trên thùng xe: cái xe tải của xưởng đỗ ở đầu ngõ cạnh nhà bà Quách từ trưa, chìa khóa vẫn cắm trong ổ, ca bin không khóa, trên ghế lái có một cái túi vải bạt thêu số đỏ, bên trong không có gì.
— Hết chương 7 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe