Chương 10: Ngày giỗ bên kia sông Cấm
Cơn bão đi qua Hải Phòng trong một đêm và để lại cả thành phố như vừa bị ai lật ngửa. Cây xà cừ trên đường Lạch Tray đổ chắn ngang lối, lá bàng ở hồ Tam Bạc rụng dày như thảm, mái tôn nhà ai bay sang tận sân nhà khác. Mái tôn tầng ba nhà Điềm không suy suyển. Bà Tươi đứng dưới nhìn lên, gật gù, bảo thằng Chấn vá khéo thật.
Năm ngày sau, Chấn gửi về cho Kem một tấm ảnh: cảng Hồng Kông lúc hoàng hôn, những cần cẩu đỏ in lên nền trời cam. Bên dưới anh viết: "Lần này bố về thật. Thứ Năm bố bay."
Thứ Năm anh về thật. Thứ Hai tuần sau anh đi làm ở văn phòng hãng tàu trên đường Lê Hồng Phong, mặc sơ mi, đeo thẻ, chiều năm giờ rưỡi tan làm. Anh thuê một căn hộ nhỏ cách nhà Điềm hai phố. Tối thứ Tư và tối Chủ nhật, Kem sang ăn cơm với bố. Lần đầu tiên con bé về, nó kể với mẹ là bố nấu canh chua cá quả, chua quá, nó phải chan thêm nước mắm. Nó kể mà cười.
Điềm nghe con kể, và cô cũng cười. Lần này cái cười xuống được tới ngực.
Tuần đầu tiên sau bão, Điềm làm một việc mà mười hai năm cô không dám làm. Cô gõ cửa phòng anh Hoạch, đặt lên bàn anh ba tờ giấy viết tay.
– Lời khai bổ sung. – cô nói. – Đêm ông Lực mất.
Anh Hoạch nhìn ba tờ giấy, rồi nhìn cô. Anh đọc. Anh đọc rất chậm, đọc hết cả ba tờ, rồi lật lại đọc tờ đầu tiên lần nữa. Cô đứng trước bàn anh, hai tay buông thõng, như đứng trước một hội đồng.
– Vụ việc khép hồ sơ mười hai năm rồi, Điềm ạ. – anh nói. – Cái này không thay đổi được gì về mặt giấy tờ.
– Em biết.
– Người ta có thể hỏi sao ngày ấy em không khai.
– Thì em trả lời. Em sợ.
Anh Hoạch ngồi im một lúc. Ngoài cửa sổ, người ta đang cưa cái cây xà cừ đổ trước cổng trạm, tiếng máy cưa rít lên từng chặp.
– Anh sẽ gửi lên công ty, kèm vào hồ sơ cũ. – cuối cùng anh nói. – Ít ra thì sau này có ai mở hồ sơ ấy ra, họ sẽ đọc được là ông Lực mất lúc đang đỡ một người tập sự xuống thang. Chứ không phải chỉ là trượt chân.
– Dạ. Thế là đủ rồi anh.
Anh gấp ba tờ giấy lại, cẩn thận, bỏ vào phong bì.
– Mười hai năm trước anh lấy lời khai em. – anh nói. – Anh thấy tay em run, anh không hỏi thêm. Anh tưởng thế là thương em. Hóa ra không phải.
Bốn tuần sau cơn bão là ngày giỗ ông Lực.
Điềm không được ai mời. Cô biết ngày ấy, vì mười hai năm nay năm nào cô cũng biết. Năm nào cô cũng sang bên kia sông, đứng ở gốc cây xoan đầu ngõ nhà ông, nhìn khói hương bay ra từ cửa, nghe tiếng người ta khấn vái, rồi về. Mười hai lần. Chưa lần nào bước vào.
Năm nay cô cũng đứng ở gốc xoan ấy. Cây xoan đã già hơn, vỏ nứt nẻ, lá úa vàng vì cơn bão. Cô cầm một bó hoa cúc vàng và một túi cam, đứng từ mười giờ sáng. Trong nhà có tiếng người, tiếng bát đĩa, mùi xôi gấc, mùi gà luộc. Một đứa trẻ con chạy ra ngõ đuổi con chó, nhìn cô một cái tò mò, rồi chạy vào.
Mười giờ hai mươi, bà Lành ra cổng.
Bà mặc áo dài nâu, tóc búi gọn, tay không cầm gì. Bà đi thẳng ra gốc xoan, dừng lại trước mặt Điềm, nhìn bó hoa cúc, nhìn túi cam, rồi nhìn cô.
– Năm nào cô cũng đứng đây. – bà nói. – Mười hai năm. Cô tưởng tôi không thấy à?
Điềm không trả lời được.
– Vào đi. – bà Lành nói. – Đứng ngoài này nắng.
Bà quay người đi vào. Điềm đi theo.
Bàn thờ ông Lực đặt ở gian giữa căn nhà cấp bốn mái ngói, sau lưng là cái sân gạch có bể nước mưa và một khóm cau năm cây cao vút. Ảnh ông trong khung gỗ, mặc áo phao cam, đội mũ bảo hộ trắng, cười rạng rỡ như vừa đi biển về. Bên cạnh bát hương có một vật Điềm chưa bao giờ nghĩ sẽ thấy lại: một chiếc găng tay da, đã khô cứng, co quắp, đường chỉ đỏ ở ngón cái phai thành màu gạch cũ.
Cô thắp hương. Cô đứng trước bàn thờ rất lâu. Cô không khấn câu nào. Cô chỉ nhìn tấm ảnh, và nói trong lòng một câu cô đã giữ mười hai năm: cháu xuống được rồi, chú ạ.
Luân đứng ở góc nhà, mặc sơ mi trắng, hai tay chắp trước bụng. Cậu không lại gần. Nhưng khi cô quay lại, cậu gật đầu với cô một cái, rất khẽ.
Bà Lành dẫn Điềm ra hiên sau, chỗ có cái chõng tre kê dưới bóng cau. Khách khứa ở gian trên, tiếng nói cười rôm rả. Ở đây chỉ có hai người đàn bà và mấy con gà mái bới đất ngoài sân.
– Cô đưa tôi đôi găng. – bà Lành nói.
Điềm lấy đôi găng ra. Bà Lành nhận lấy, rồi rút từ trong túi áo ra một cái kim và một cuộn chỉ đỏ. Bà đeo kính lão, ngồi xếp bằng trên chõng, bắt đầu tháo những mũi chỉ thẳng Điềm đã khâu.
– Ông Bổng kể cô biết rồi phải không? – bà hỏi, mắt không rời đường kim.
– Dạ.
– Thế thì tôi không phải giả vờ nữa.
Bà rút một sợi chỉ cũ ra, cuộn lại, bỏ vào lòng bàn tay.
– Hôm đám tang, ông Bổng kéo tôi ra sau bếp, kể hết. Ông ấy bảo chị Lành ơi, anh Lực leo ngược lên cho con bé. – Bà xâu chỉ đỏ mới vào kim, đưa lên ánh sáng, nheo mắt. – Tôi nghe xong, tôi ghét cô.
Điềm ngồi im.
– Tôi ghét cô mười hai năm. – bà Lành nói, giọng đều. – Không phải vì cô đứng tròng trên thang. Ai mà chẳng có lúc sợ. Tôi ghét cô vì ông ấy chọn leo lên với cô, thay vì bước sang với tôi. Đêm ấy chỉ cần ông ấy bước sang. Ông ấy bước sang thì cô có ra sao, ông ấy vẫn về nhà ăn cơm với mẹ con tôi. Tôi biết nghĩ thế là ác. Tôi vẫn nghĩ thế.
Kim đâm qua lớp da, kéo ra, đâm vào. Mũi chéo. Đều đặn.
– Tôi không kể với thằng Luân. – bà nói. – Tôi sợ nó biết, nó sẽ đi tìm cô. Nó giống bố nó. Nó mà biết có một người bố nó đã liều mạng để cứu, nó sẽ đi tìm người ấy, để xem người ấy có đáng không. Tôi giấu nó mười hai năm. Rốt cuộc nó vẫn đi tìm.
Bà cắn đứt sợi chỉ bằng răng.
– Hôm thằng Luân về, sau đêm bão. – bà nói. – Nó ngồi trước bàn thờ bố nó đến sáng. Rồi nó bảo mẹ ơi, con xuống ca nô đứng chỗ không được đứng, con đếm cho chị ấy xuống, con thấy con giống bố. Mẹ ơi, bố không làm gì sai đâu mẹ. Bố làm đúng cái việc bố phải làm.
Bà Lành ngẩng lên. Lần đầu tiên, Điềm thấy mắt bà ướt.
– Nó nói đúng. – bà nói. – Ông ấy là thế. Nếu đêm ấy ông ấy bước sang, bỏ cô lại trên thang, thì ông ấy không phải là ông ấy nữa. Thì tôi đã không lấy ông ấy.
Bà cầm chiếc găng thứ hai lên, bắt đầu tháo chỉ.
– Cháu xin lỗi bác. – Điềm nói. Đến lúc này cô mới nói được. – Cháu xin lỗi vì mười hai năm cháu không dám vào.
– Cô xin lỗi vì cái đó thì được. – bà Lành nói. – Còn chuyện ông ấy leo lên, cô đừng xin lỗi. Ông ấy chọn. Cô xin lỗi là cô lấy mất cái ông ấy chọn.
Hai người ngồi im. Trên đầu, lá cau xào xạc. Một con gà mái cục tác ngoài sân. Ở gian trên, có ai đó cất giọng hát một câu chèo, lạc điệu, rồi cả nhà cười ồ.
Bà Lành khâu xong chiếc găng thứ hai. Bà đặt đôi găng lên đùi Điềm, vỗ nhẹ lên đó hai cái.
– Mũi chéo. – bà nói. – Bền hơn.
– Dạ.
– Còn chuyện cô với thằng Luân. – Bà tháo kính lão ra, gấp lại. – Tôi chưa nói được. Tôi già rồi. Tôi chưa quen được. Cô cho tôi thời gian.
Điềm nhìn bà. Mười hai năm, cô chờ một lời trách. Bây giờ cô nhận được một câu "cho tôi thời gian", và cô thấy nó nặng hơn mọi lời trách.
– Dạ. – cô nói. – Bác cứ từ từ.
Lúc cô ra về, có một chiếc xe đạp điện dựng ở gốc xoan. Kem đứng cạnh, đội mũ bảo hiểm, áo đồng phục còn chưa thay.
– Bà ngoại bảo mẹ sang đây. – con bé nói. – Con sợ mẹ đứng ngoài cổng, nên con sang.
– Mẹ vào rồi.
Kem nhìn qua vai mẹ, vào trong ngõ. Luân đang đứng ở cổng nhà, tay đút túi quần, nhìn ra. Con bé nhìn cậu một lúc, rồi nó làm một việc mà Điềm không ngờ: nó đi vào, đến trước bàn thờ, chắp tay vái ba vái. Rồi nó đi ra, dừng lại trước mặt Luân.
– Anh đếm bậc cho mẹ em à? – nó hỏi.
Luân nhìn con bé, ngạc nhiên.
– Bố em kể. – Kem nói. – Bố em đứng trên buồng lái, nhìn xuống thấy hết.
– Ừ. – Luân nói.
Kem gật đầu, như vừa xác nhận được một điều quan trọng. Nó quay lại với mẹ, đội mũ bảo hiểm vào, cài quai.
– Mẹ lên xe, con chở. – nó nói.
Luân tiễn hai mẹ con ra đầu ngõ. Đến gốc xoan, cậu đứng lại.
– Chị ơi. – cậu gọi.
Điềm quay lại. Kem đã ngồi sẵn trên xe, giả vờ không nghe.
– Hai tuần nữa em thi sát hạch. – Luân nói. – Ông Cử ký nhận xét cho em rồi. Hội đồng không có chị. Chị đừng đến chỗ thi. Em muốn đỗ mà không ai nói được câu gì.
– Chị không đến.
– Còn một việc nữa. – Cậu ngập ngừng, rồi nhìn thẳng vào cô. – Hôm ở quán bánh đa, chị bảo em đừng nói. Em chưa nói. Ngày em thi xong, em sẽ nói. Chị chờ được không?
— Hết chương 10 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe