AI Truyện
Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

🧸 Truyện thiếu nhi

Muội ơi, mở cửa!

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ · Chương 6/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Muội ơi, mở cửa!

Cái lồng tre treo trên đinh, cửa nan kéo lên tận nóc, bên trong trống trơn. Máng cám đổ nghiêng. Hũ nước đổ ụp. Trên sàn gạch, mấy cái lông đen bóng nằm rải rác, và cách đó một gang tay, sợi dây dù đỏ nằm cuộn lại như con trùn.

Muội đứng chết trân giữa phòng. Sáng nay Muội dậy sớm quá, cho con nhồng ăn vội vàng, gài cái chốt vô mà quên cột dây. Muội nhớ rõ ràng mình đã quên. Muội nhớ luôn cả cái ý nghĩ lúc đó: "Thôi, về rồi cột."

– Nó mổ cái chốt. – Cống nói, giọng run. – Nó mổ tới nỗi cái chốt tuột ra. Chị coi, mép cửa còn dấu mỏ nè.

Muội không nghe. Muội chạy tới cửa sổ, thò đầu ra.

Trên mái tôn của dãy nhà bên kia đường, một chấm đen nhỏ đang nhảy lò cò. Hai cái mép vàng lóe lên trong nắng.

– Út Hét!

Con nhồng nghe tiếng gọi, quay đầu lại nhìn. Nó nhìn Muội chừng một giây. Rồi nó dang cánh, bay vụt qua đầu đường, đáp xuống mái chợ.

Muội lao xuống cầu thang. Cống lao theo, tay cầm cái lồng không, vì nó không biết cầm cái gì khác. Má đứng ở bếp bánh xèo, cái vá còn dính bột, há miệng ra định hỏi thì hai đứa đã chạy vụt qua.

Chợ lúc tám giờ sáng đông như kiến. Người ta đi thành từng dòng giữa mấy dãy sạp, xe đẩy chen xe đẩy, giỏ xách đụng giỏ xách. Muội vừa chạy vừa ngẩng đầu lên mái, mà mái chợ là tôn gợn sóng, nắng hắt chói lòa, nhìn đâu cũng thấy chớp chớp. Muội đụng trúng một bà bán bông bí, xin lỗi. Đụng trúng một ông xách bao gạo, xin lỗi. Cống chạy sau lưng, cái lồng không quẹt vô một dây treo nón lá, làm rớt xuống ba cái.

Cống thắng lại. Nó nhìn ba cái nón lá lăn lông lốc trên nền chợ ướt, nhìn cái lưng Muội đang chạy xa dần. Rồi nó cúi xuống lượm từng cái, phủi phủi, treo lại lên dây, miệng lí nhí "con xin lỗi cô, con xin lỗi cô". Chị bán nón đang định la, thấy vậy thì thôi, chị chỉ tay lên trên đầu:

– Con chim của tụi bây hả? Nó bay qua dãy mắm kìa. Chạy lẹ đi.

Cống chạy lẹ, đuổi kịp Muội ở đầu dãy mắm, thở không ra hơi.

– Kìa! – Cống la.

Con nhồng đang đậu trên cái dây điện căng ngang dãy hàng vải. Nó lắc lư, rồi nhảy qua cái mái che bằng bạt xanh của sạp bán mắm. Bà bán mắm đang ngồi múc mắm ra bịch cho khách, thấy cái mái bạt rung rinh thì ngước lên, đúng lúc con nhồng nghiêng đầu ngó xuống bà, hét:

– Chào khách! Sửa đồng hồ hông?

Bà bán mắm giật mình, làm đổ nguyên vá mắm lên đùi.

– Trời đất ơi con nhồng ông Tư!

Tiếng la của bà làm cả dãy hàng quay lại. Rồi có người chỉ trỏ, có người cười. Có người móc điện thoại ra quay. Con nhồng thấy đông người thì sợ. Nó dang cánh bay lên cao hơn mái chợ, bay một vòng rộng trên đầu mọi người, rồi đáp lên một chỗ mà không ai với tới.

Cái gờ tường dưới mặt đồng hồ tháp chợ.

Muội đứng ở chân tháp, ngửa cổ lên. Con nhồng nhỏ như một hột đậu đen, đậu ngay dưới số sáu La Mã, ngay chỗ hai cây kim đứng im ở bốn giờ mười. Nó đậu đó, rỉa lông, rồi ngó xuống.

Rồi nó hét. Giọng ông Tư khàn khàn, rõ từng tiếng, vang xuống cả một khoảng chợ:

– Muội ơi! Mở cửa! Muội ơi! Mở cửa!

Cả khoảng chợ im bặt. Người ta ngó lên con nhồng, rồi ngó xuống Muội.

Muội đứng sững. Cái câu đó, con nhồng chưa nói bao giờ. Nó gọi tên Muội. Ông Tư đã dạy nó gọi tên Muội. Ông Tư đã ngồi đâu đó, những buổi chiều ở sạp sửa đồng hồ, kiên nhẫn dạy một con chim kêu tên con nhỏ mười tuổi nhà bánh xèo đầu chợ. Từ hồi nào? Tại sao?

– Mở cửa gì? – Cống hỏi, thở không ra hơi.

Muội không biết. Nhưng Muội biết một chuyện: con nhồng đang đậu ngay ngoài ô cửa chớp trên cùng của tháp chợ. Mà cái chìa khóa cửa tháp đang nằm trong túi quần Muội.

– Bảnh đâu? – Muội hỏi.

– Em đâu biết.

– Kêu ảnh. Kêu ba chị nữa. Chị lên trước.

– Chú Hiển nói con nít không được lên một mình!

Muội đứng lại. Đúng. Chú Hiển nói vậy, ba cũng nói vậy. Muội cắn môi, nhìn lên con nhồng, nhìn xuống cái chìa khóa.

Không cần chạy đi kêu ai hết. Tiếng la "con nhồng ông Tư" đã lan khắp chợ nhanh hơn cả tiếng loa. Bảnh chạy tới từ phía dãy cá, tay còn cầm cái thớt. Chú Hiển đi tới từ phía văn phòng ban quản lý, bộ đàm kêu rè rè. Ba Muội chạy ra từ tiệm, mặt lấm nhớt. Muội không giải thích gì nhiều. Muội chỉ chỉ tay lên trên.

Chú Hiển ngó lên, thở dài một hơi.

– Mở cửa tháp đi. – Chú nói. – Anh Lành đi với tụi nhỏ. Tôi đứng dưới này coi chừng.

Lần thứ hai trong một buổi sáng, Muội tra chìa khóa vô ổ, xoay một tiếng "cục". Cả đám leo lên. Lần này leo nhanh hơn, vì chân đã quen bậc. Lên tới chiếu nghỉ cuối cùng, sát dưới phòng máy, có một ô cửa chớp hé ra ngay dưới cái gờ con nhồng đang đậu.

Ba Muội đẩy cánh cửa chớp. Bản lề rít lên. Gió lùa vô mát rượi. Bên ngoài, cách đó chừng một sải tay người lớn, con nhồng đứng trên gờ, nghiêng đầu nhìn vô.

Muội đưa cái lồng không ra cửa sổ. Con nhồng nhìn cái lồng, không nhúc nhích.

Cống chìa ra một miếng chuối xiêm, miếng chuối còn sót trong túi áo nó từ hôm qua, đã bầm đen. Con nhồng nhìn miếng chuối, không nhúc nhích.

– Út Hét. Út Hét ơi. Vô đây nè. – Muội gọi. Con nhồng không nhúc nhích.

Bảnh đứng sau lưng Muội nãy giờ. Bảnh không nói gì. Rồi Bảnh chồm tới, chu môi lên, huýt một điệu sáo. Ba nốt lên, hai nốt xuống, rồi một nốt kéo dài, cuối nốt run run.

Con nhồng xù lông cổ. Nó nghiêng đầu bên này, rồi nghiêng đầu bên kia. Rồi nó nhảy lò cò hai bước trên gờ tường, dang cánh, đáp xuống ngay trên cánh tay Bảnh, móng bấu vô da làm Bảnh nhăn mặt nhưng không dám la.

Muội chụp lấy con nhồng bằng hai tay, nhẹ nhàng, rồi bỏ vô lồng. Cống kéo cửa nan xuống. Ba Muội thở ra một hơi dài như vừa đẩy được chiếc xe chết máy lên dốc.

– Điệu sáo gì vậy? – Muội hỏi Bảnh.

Bảnh gãi đầu.

– Ông Tư huýt cái điệu đó mỗi lần cho nó ăn. Tao ngồi ở sạp ổng hoài, nghe riết rồi thuộc.

Muội nhìn Bảnh. Muội định nói một câu gì đó cho tử tế, mà nghĩ mãi không ra câu nào, nên Muội chỉ nói:

– Cảm ơn anh Bảnh.

Bảnh nhún vai, quay mặt đi, nhưng tai nó đỏ lựng.

Cả đám xuống tháp. Dưới chân tháp người ta đứng coi đông nghẹt, có người vỗ tay. Chú Hiển giải tán đám đông, khóa cửa tháp lại, đưa chìa khóa cho Muội, rồi nhìn cái lồng chim, lắc đầu, cười một cái mệt mỏi.

Về tới nhà, Muội treo cái lồng lên đinh. Muội đi lượm cái chốt đồng.

Cái chốt đã lăn vô gầm tủ. Muội phải nằm sấp xuống, thò tay vô mới lượm được. Muội cầm nó lên, đứng dậy, định xỏ nó vô hai cái khoen cửa lồng như mọi lần.

Rồi tay Muội dừng lại.

Lần đầu tiên, Muội nhìn cái chốt đồng mà không coi nó là cái chốt lồng. Một thanh đồng dẹp, dài cỡ một gang tay. Một đầu bẻ quặp lên thành cái tay cầm, tròn trịa, mòn láng như được nắm cả ngàn lần. Đầu kia, một cái lỗ vuông, bốn cạnh mòn bóng như được tra vào một cái gì đó cả ngàn lần.

Một cái lỗ vuông. Vừa ngón tay út của Cống.

Một cái đầu trục vuông. Nhỏ cỡ ngón tay. Hai cái đầu trục vuông nhô ra trên khung gang sơn xanh.

– Cống. – Muội gọi, giọng khàn khàn. – Cống, lại đây.

Cống tới. Muội đặt cái thanh đồng vào tay nó, cái lỗ vuông quay lên.

– Em nhìn coi. Cái này giống cái gì?

Cống nhìn cái thanh đồng. Cống nhìn lâu. Cống là đứa đếm giỏi, nhớ giỏi, cái gì nó thấy một lần là nó nhớ hình dạng. Rồi mắt nó mở to dần, to dần.

– Cái tay quay. – Cống thì thào. – Chị Muội. Cái chốt lồng là cái tay quay.

Muội ngồi phịch xuống sàn. Muội nhớ lại buổi sáng ở bến xe, ông Tư nói "ờ, đồ cũ đó" rất nhanh, như sợ Muội hỏi thêm. Muội nhớ lại cái cách ông vỗ vỗ lên tay Muội. Cái tay quay đồng hồ chợ không có ở trên tháp, không có dưới chậu bông giấy, không có ở sạp bà Năm. Nó nằm trên cửa lồng con nhồng, nằm ngay trước mắt Muội, từ cái giây phút đầu tiên. Muội đã cầm nó trên tay mỗi ngày hai lần, lúc thay cám, lúc thay nước.

– Ổng đưa cho mình hết từ đầu. – Muội nói. – Ổng đưa cho mình cái tay quay trước. Rồi ổng bắt mình đi một vòng để kiếm cái bình dầu, để biết giờ kèn đò, để kiếm chìa khóa cửa. Ổng không muốn mình chỉ có cái tay quay.

– Sao vậy? – Cống hỏi.

Muội lắc đầu. Muội không biết. Nhưng Muội đoán được một chút. Có tay quay mà không biết tra dầu thì máy mòn. Có tay quay mà không biết giờ kèn đò thì không biết chỉnh giờ. Có tay quay mà không có chìa khóa cửa thì đứng ngoài. Ông Tư không giao cái đồng hồ cho một cái tay quay. Ông giao nó cho một người.

Ngoài cửa sổ, nắng trưa rọi thẳng xuống cái mặt đồng hồ chợ, hai cây kim vẫn đứng im ở bốn giờ mười.

Muội lấy một sợi kẽm trong hộp đồ nghề của ba, bẻ cong, xỏ ngang qua hai cái khoen cửa lồng, vặn chặt. Con nhồng nhìn sợi kẽm, nhìn Muội, có vẻ không vui.

Rồi Muội cầm cái tay quay bằng đồng, đứng dậy.

– Đi kiếm ba. Đi kiếm chú Hiển. Đi kiếm anh Bảnh.

Tối đó, khi cả nhà đã ngủ, con nhồng trong cái lồng cài kẽm lại cất tiếng, chậm rãi, khàn khàn, một câu mà nó chưa bao giờ nói:

– Chờ kèn. Chờ kèn rồi mới thả.

— Hết chương 6 —

Mục lục Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

  1. 1Con nhồng ở lại10 phút
  2. 2Bà Năm Cá Lóc10 phút đọc
  3. 3Khế ngọt bến đò10 phút đọc
  4. 4Chậu thứ mười10 phút đọc
  5. 5Căn phòng máy trên tháp9 phút đọc
  6. 6Muội ơi, mở cửa!10 phút đọc
  7. 7Giao kèo bảy ngày10 phút đọc
  8. 8Cái bụng của đồng hồ9 phút đọc
  9. 9Mười hai cái khấc9 phút đọc
  10. 10Đêm dông trên tháp chợ11 phút đọc
  11. 11Ba chục vòng, không hơn10 phút đọc

Về truyện này

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tú của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →