AI Truyện
Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

🧸 Truyện thiếu nhi

Khế ngọt bến đò

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ · Chương 3/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Khế ngọt bến đò

– Ê! Thằng nhỏ kia! Cây khế của tao mắc mớ gì mày mà mày rung nó?

Tiếng la vang lên từ dưới mặt nước. Một chiếc đò máy nhỏ đang cặp vô bến, sơn xanh lá đã tróc lỗ chỗ, đầu đò vẽ hai con mắt đỏ. Người đứng lái là một ông già ốm nhom, đen nhẻm, cởi trần, quần đùi, trên đầu đội cái nón lá rách vành. Ông nhảy lên bến ván, chân trần bước bành bạch, đi thẳng tới gốc khế.

Đó là ông Sáu Lèo. Con nít xóm chợ ai cũng biết ông. Người ta gọi ông là Sáu Lèo vì hồi trẻ ông cột đò bằng một cái lèo dây buồm, cột kiểu gì mà gió bão cũng không tuột. Ông chèo đò ngang qua rạch bốn chục năm, hồi trước chèo tay, bây giờ chạy máy, nhưng mọi người vẫn nói là "ông Sáu chèo".

Bảnh buông thân cây khế ra, lùi lại một bước.

– Con... con kiếm đồ.

– Kiếm đồ trên cây khế? Đồ gì? Kiếm ổ kiến vàng hả? – Ông Sáu chỉ tay lên. – Mày rung chút nữa ổ kiến rớt xuống đầu mày, mày khóc cha khóc má.

Bảnh ngó lên. Trên một cành khế cao có một cái ổ kiến vàng to bằng trái bưởi, lá khế cuốn tròn, kiến bò lúc nhúc. Bảnh rụt cổ lại.

Muội bước tới. Muội đã nghĩ suốt từ trên chợ chạy xuống. Bà Năm thì phải nói đúng hai câu. Vậy ông Sáu chắc cũng phải nói đúng câu. Muội nói, giọng run run:

– Dạ ông Sáu. Khế ngọt bến đò.

Ông Sáu quay lại. Ông nhìn Muội, nhìn cái lồng chim trong tay Muội, nhìn con nhồng. Con nhồng nhìn lại ông, rồi hét:

– Chào khách! Sửa đồng hồ hông?

Ông Sáu phá ra cười. Ông cười tới nỗi phải ngồi bệt xuống ván, lấy cái nón lá quạt quạt.

– Trời đất ơi. Cái thằng Tư. Nó làm thiệt hả. Tao tưởng nó giỡn.

– Ổng làm gì hả ông? – Cống hỏi.

Ông Sáu ngưng cười, nhưng mắt vẫn còn híp lại.

– Cây khế này chua nhất xứ Sa Đéc. Hồi đó, sáng nào thằng Tư cũng ra đây ngồi dưới gốc khế, ngồi từ hồi trời còn tối thui, chờ tao chạy chuyến đò đầu tiên. Nó nói ngồi đây ăn khế chấm muối ớt cho tỉnh ngủ. Tao nói khế chua lè ăn gì nổi. Nó nói khế ngọt. Ăn khế chua mà nói khế ngọt, chịu nổi cái thằng đó hông?

– Mà sao ổng ngồi chờ ông? – Muội hỏi.

Ông Sáu chỉ tay ra phía mũi đò. Trên mũi đò, gắn vào cây trụ sắt, có một cái kèn đồng cong cong như cái tù và, đầu kia là một quả bóp cao su đen. Nhưng quả bóp cao su không còn ở đó. Chỉ còn trơ cái cổ kèn, cột một khúc dây thun.

– Mấy chục năm nay, – ông Sáu nói, – sáng nào đò tao cũng chạy chuyến đầu đúng năm giờ, trước khi chạy tao bóp kèn một hơi dài. Thằng Tư ngồi dưới gốc khế, nghe kèn là nó ngó lên đồng hồ chợ. Đồng hồ trễ một chút thì nó lật đật đi lên tháp vặn lại. Đồng hồ sớm một chút thì nó cũng đi lên vặn lại. Năm giờ của đò tao với năm giờ của đồng hồ chợ phải là một.

– Sao ông biết đò ông đúng năm giờ? – Cống hỏi. Cống hỏi cái gì cũng hỏi tới tận cùng.

Ông Sáu móc trong túi quần ra một cái đồng hồ đeo tay cũ, dây da đã đứt, ông cột nó bằng một sợi kẽm.

– Thằng Tư cho tao cái này. Nó chỉnh cho tao. Cả đời nó, cái đồng hồ này chưa trễ một phút. – Ông Sáu thở ra. – Mà thôi. Thằng Tư đi rồi. Bây giờ ai mà còn ngó đồng hồ chợ nữa, ai cũng có điện thoại.

Muội nhìn cái cổ kèn không có quả bóp.

– Ông ơi, cái bóp kèn đâu rồi?

Ông Sáu xụ mặt.

– Sáng nay nó tuột ra, rớt xuống ván, lăn vô cái khe. Tao chui không lọt. Sáng nay tao chạy chuyến đầu mà không có kèn. Bốn chục năm, lần đầu tiên.

Ông chỉ một cái khe giữa hai tấm ván bến, chỗ một tấm ván đã mục, gãy mất một khúc. Muội quỳ xuống nhìn qua khe. Bên dưới tối thui, chỉ thấy mùi bùn non, tiếng nước óc ách. Nước đang ròng. Dưới chân bến lộ ra một khoảng bùn xám, mấy con tép nhảy tanh tách trong mấy vũng nước nhỏ. Giữa đám bùn, gần một cây cột bến, có một cục đen đen tròn tròn.

– Nó kìa!

– Ờ, thấy đó mà lấy không được. – Ông Sáu nói. – Khe nhỏ quá, tao với tay hổng tới. Kêu mấy thằng thanh niên thì tụi nó còn ngủ.

Muội nhìn cái khe. Rồi Muội nhìn thằng Cống. Thằng Cống tám tuổi, ốm nhách, cái đầu nhỏ, hai vai nhỏ, nhỏ tới nỗi hồi Tết nó chui lọt cái thùng giấy đựng bánh tráng.

Cống thấy Muội nhìn, lùi lại.

– Hông. Em hông chui.

– Có dây cột mà.

– Dưới đó có cua. Có rắn.

– Nước ròng sát, bùn cạn tới mắt cá à. Tao nắm dây, có gì tao kéo lên liền. – Ông Sáu nói. Rồi ông nhìn Cống kỹ hơn. – Mà mày nhỏ thiệt. Mày chui lọt.

Bảnh đứng sau lưng, khoanh tay, nói lớn:

– Thằng nhát đó đâu dám chui.

Câu đó làm Cống đỏ mặt. Cống nhìn Bảnh, rồi nhìn cái khe, rồi nhìn quả bóp kèn nằm trong bùn. Nó nuốt nước miếng cái ực.

– Ông cột dây chắc chắn nghen.

Ông Sáu cột một sợi dây thừng ngang bụng Cống, cột kiểu cột lèo, gút chéo hai vòng. Ông đỡ Cống thòng hai chân xuống khe trước. Cống lách vai trái, rồi vai phải, rồi cả người tuột xuống, chân lún bùn tới mắt cá. Nó kêu "ui da, lạnh". Muội nằm sấp trên ván, mắt dán vô khe.

– Đi tới cây cột thứ hai. Bên trái. Bên trái của em đó!

– Em biết bên trái mà!

Cống lội bì bõm. Một con cua đồng bò ngang qua chân nó, giơ hai cái càng, nó la lên một tiếng thất thanh. Trên bến, ông Sáu cầm chắc đầu dây. Bảnh không khoanh tay nữa. Bảnh đã quỳ xuống bên cạnh Muội, cũng dán mắt vô khe, miệng lẩm bẩm "trời, trời".

Rồi Cống cúi xuống, chụp được cục đen đen. Nó giơ lên:

– Được rồi!

Ông Sáu kéo dây. Cống trồi lên khỏi khe, mình mẩy dính bùn từ đầu gối trở xuống, hai tay ôm quả bóp cao su như ôm một quả trứng vịt. Ông Sáu lấy gáo múc nước sông dội chân cho nó, rồi cầm quả bóp, chạy ra mũi đò, gắn lại vào cổ kèn, quấn dây thun chặt cứng. Ông bóp thử.

"Bô... ô... ô... ô... ông!"

Tiếng kèn rền ra cả một khúc sông, dội vào hai bờ, làm một bầy chim sẻ trên cây khế bay vụt lên. Trên chợ, có người thò đầu ra coi. Con nhồng trong lồng xù hết lông cổ, rồi nó hét to hơn bao giờ hết:

– Bông giấy đỏ! Chậu thứ mười! Bông giấy đỏ!

Cả bốn người đứng sững.

– Nó nói giọng thằng Tư. – Ông Sáu nói khẽ.

– Nó nói câu mới. – Muội nói. Tim Muội đập thình thịch. – Ông ơi, bông giấy đỏ là ở đâu?

– Bông giấy thì bên kia rạch, vườn kiểng của con Hai. – Ông Sáu chỉ tay qua bờ bên kia. Bên đó, sau hàng dừa nước, thấp thoáng những mảng màu đỏ, hồng, tím, trắng, như ai đổ cả hộp màu sáp lên một cánh đồng. – Vườn kiểng bông giấy lớn nhất xóm. Mà ở đó có cả ngàn chậu, chậu nào cũng đỏ.

Ông Sáu ngó lại Muội. Ông gỡ cái nón lá xuống, gãi đầu.

– Thằng Tư có dặn tao một câu. Nó nói đứa nào tới hỏi "khế ngọt", thì chở nó qua sông, khỏi lấy tiền. Tao tưởng nó giỡn. – Ông đội nón lên lại. – Lên đò đi. Tao chở.

Muội xách lồng chim nhảy lên đò. Cống nhảy theo, chân còn ướt nhẹp, để lại hai dấu chân bùn trên sàn đò. Ông Sáu kéo dây nổ máy. Cái máy đò ho khù khụ hai tiếng rồi nổ giòn.

Bảnh đứng trên bến. Hai tay nó buông thõng. Nó nhìn chiếc đò, nhìn con nhồng, nhìn Cống. Mặt nó không còn vẻ oai nữa.

– Ông Sáu, – Bảnh nói, – con đi với.

– Mày có hỏi "khế ngọt" đâu.

– Con... con có tiền.

Bảnh móc túi ra hai đồng xu năm trăm, một tờ hai ngàn nhàu nát. Ông Sáu nhìn mấy đồng tiền, rồi nhìn Muội. Ông không nói gì, chỉ nhìn, như để Muội quyết.

Muội nghĩ tới cái câu "kho báu của ông Tư là của tao". Muội nghĩ tới lúc Bảnh quỳ bên khe ván, miệng lẩm bẩm "trời, trời", lo cho thằng Cống còn hơn lo cho kho báu. Rồi Muội nghĩ tới câu bà Năm kể, rằng ông Tư thương Bảnh lắm, dạy Bảnh cầm cái tua vít.

– Cho ảnh đi đi ông. – Muội nói.

Ông Sáu gật đầu. Bảnh nhảy lên đò. Nó ngồi xuống cái băng ghế ở đuôi đò, xa Muội nhất, quay mặt ra sông. Nó không nói cảm ơn. Nhưng nó cũng không nhét lại mấy đồng tiền vào túi. Nó để mấy đồng tiền lên băng ghế, đẩy về phía ông Sáu.

Đò rời bến. Nước rạch màu trà sữa, lục bình trôi từng đám, bông tím ngắt. Gió sông thổi mát rượi, thổi khô dần hai ống quần của Cống. Phía sau lưng, cái tháp chợ nhỏ dần, cái mặt đồng hồ trắng nhỏ dần.

Cống ngó lại cái tháp, rồi nói một câu mà sau này Muội nhớ hoài:

– Chị Muội. Đồng hồ chợ chỉ tám giờ.

– Thì tám giờ.

Cống không trả lời Muội. Nó quay qua ông Sáu:

– Ông Sáu, đồng hồ của ông mấy giờ?

Ông Sáu ngó xuống cái đồng hồ cột kẽm trên tay.

– Tám giờ năm phút. – Ông nói. Rồi ông nheo mắt ngó lại cái tháp chợ phía sau. – Đồng hồ chợ trễ năm phút. Cả tuần nay thằng Tư lo dọn đồ, mắt mũi kèm nhèm, đâu có leo lên tháp. Nó mà còn ở đây, nó không để vậy đâu.

Ông nói xong, im lặng lái đò. Còn Muội thì ngồi ôm cái lồng chim, nghe cái bình dầu nhỏ trong túi áo cấn vào hông. Dầu tra máy. Ba chục vòng. Khế ngọt. Bến đò. Năm giờ sáng. Chưa có cái gì ăn khớp với cái gì, nhưng Muội có cảm giác như mình đang cầm mấy mảnh của một cái máy, chưa biết lắp vô đâu.

Chiếc đò cặp vào bờ bên kia. Và ngay khi Muội vừa đặt chân xuống bến, một con chó vàng to tướng từ trong vườn bông giấy phóng ra, sủa ầm ầm, nhào thẳng tới cái lồng chim.

— Hết chương 3 —

Mục lục Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

  1. 1Con nhồng ở lại10 phút
  2. 2Bà Năm Cá Lóc10 phút đọc
  3. 3Khế ngọt bến đò10 phút đọc
  4. 4Chậu thứ mười10 phút đọc
  5. 5Căn phòng máy trên tháp9 phút đọc
  6. 6Muội ơi, mở cửa!10 phút đọc
  7. 7Giao kèo bảy ngày10 phút đọc
  8. 8Cái bụng của đồng hồ9 phút đọc
  9. 9Mười hai cái khấc9 phút đọc
  10. 10Đêm dông trên tháp chợ11 phút đọc
  11. 11Ba chục vòng, không hơn10 phút đọc

Về truyện này

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tú của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →