AI Truyện
Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

🧸 Truyện thiếu nhi

Bà Năm Cá Lóc

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ · Chương 2/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Bà Năm Cá Lóc

Dãy cá của chợ Cầu Ván nằm sát mé sông, nền xi măng lúc nào cũng ướt nhẹp, ai đi qua cũng phải xăn ống quần. Sáu giờ sáng, ghe cá từ dưới rạch lên đã cập bến, mấy chú khiêng thau cá chạy lạch bạch, vừa chạy vừa la "tránh ra, tránh ra, nước cá nè". Cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc nhảy lốp bốp trong thau. Mùi tanh, mùi bùn, mùi nước đá trộn vào nhau.

Muội xách cái lồng chim, Cống nắm vạt áo Muội đi sau. Hai đứa đứng cách sạp bà Năm chừng năm bước, không dám tới gần.

Bà Năm Cá Lóc ngồi trên cái ghế đẩu thấp, hai chân dạng ra, trước mặt là ba cái thau nhôm to đùng. Bà mặc áo bà ba nâu, quần đen xăn tới gối, đầu cột cái khăn rằn. Tay bà cầm cái chày gỗ nhỏ. Có người mua chỉ con cá nào là bà chụp con đó, đập một cái gọn hơ lên thớt, con cá nằm im. Bà làm nhanh tới nỗi Cống chưa kịp nhắm mắt.

– Chị Muội, mình về đi. – Cống nói nhỏ.

– Về là thua.

– Thua ai?

– Thua thằng Bảnh.

Cống không hiểu sao lại thua thằng Bảnh, nhưng nó im.

Một bà khách đứng trước sạp, chỉ vô thau:

– Con này nhiêu chị Năm?

– Tám chục một ký.

– Mắc dữ vậy. Bảy chục đi.

– Cá đồng, hổng phải cá nuôi. Hổng mua thì thôi.

Bà khách bĩu môi đi qua sạp khác. Bà Năm nhìn theo tới cuối dãy, y như lời đồn. Rồi bà quay lại, thấy Muội với Cống, thấy cái lồng chim. Bà nheo mắt.

– Con nhồng của thằng Tư hả?

Muội gật đầu. Cổ họng Muội khô khốc.

– Tụi bây kiếm tao chi?

Muội mở miệng. Muội đã tập suốt đường đi: "Thưa bà, ông Tư Rỗi gửi con nhồng cho con, mà con nhồng nói hỏi bà Năm." Nhưng đứng trước bà Năm, trước cái chày gỗ còn dính vảy cá, mấy câu tập sẵn bay đâu mất. Muội chỉ nói được:

– Dạ... con nhồng nói... hỏi bà.

– Hỏi tao cái gì?

– Dạ... con hổng biết.

Bà Năm nhìn Muội một hồi lâu. Rồi bà cúi xuống lựa cá cho khách, không nhìn Muội nữa.

– Hổng biết hỏi gì thì về đi. Tao đang bán.

Cống kéo vạt áo Muội. Muội không nhúc nhích. Muội nhìn quanh. Sạp bà Năm đông người, ba thau cá đầy ắp, mà chỉ có mình bà. Thường thì thằng Bảnh ngồi phụ bà lựa cá, rửa thớt, thối tiền. Bữa nay không thấy Bảnh đâu.

– Bà ơi, – Muội nói, – con phụ bà bán nghen.

Bà Năm ngước lên.

– Mày biết bán cá?

– Con biết thối tiền. Má con bán bánh xèo, con thối tiền từ hồi lớp Một. Còn thằng Cống đếm giỏi lắm.

Cống gật gật, mặt hơi tái, mắt dán vô cái chày.

Bà Năm hừ một tiếng, rồi chỉ cái hộp thiếc đựng tiền:

– Ngồi đó. Thối sai một đồng tao trừ vô tiền bánh xèo của má mày.

Vậy là hai đứa ngồi xuống. Muội thối tiền, Cống đứng bên cái cân đọc số. Người ta mua một ký hai, Cống la "một ký hai, chín mươi sáu ngàn", nhanh hơn cả bà Năm bấm tay. Có một chú mua ba con cá rô, hai con cá trê, Cống tính một hơi ra luôn. Bà Năm liếc nó một cái, không nói gì, nhưng lần sau có ai hỏi giá, bà hất cằm về phía Cống: "Hỏi nó."

Gần bảy giờ thì có chuyện. Một con cá lóc to bằng bắp chuối, nằm im re dưới đáy thau từ nãy giờ, tự nhiên quẫy một cái thật mạnh. Nước bắn tung tóe. Con cá vọt ra khỏi thau, rớt xuống nền xi măng cái bịch, rồi trườn đi. Nó trườn nhanh không tưởng, lưng đen bóng uốn qua uốn lại như con rắn, nhắm thẳng cái rãnh thoát nước chạy ra mé sông.

– Cá! Cá! – Bà khách đứng gần la lên, nhảy dựng cả hai chân.

Bà Năm đang cầm tiền, chưa kịp đứng dậy. Muội đang cầm hộp thiếc. Chỉ có thằng Cống là đứng không. Cống, cái thằng sợ cái chày gỗ, sợ cua, sợ con thạch sùng trên trần, đứng nhìn con cá trườn ngang qua chân mình. Rồi không biết nó nghĩ gì, nó cởi phăng cái áo thun, nhào xuống, trùm cái áo lên con cá, ôm chặt cả áo lẫn cá vô bụng.

Con cá quẫy trong áo. Cống nhắm tịt mắt, mặt nhăn như trái táo khô, nhưng không buông.

– Bỏ vô thau! Bỏ vô thau! – Muội la.

Cống lồm cồm bò dậy, ôm cái bọc áo chạy tới, thả cái bịch vô thau. Con cá lóc rơi ra khỏi áo, quẫy một cái, rồi nằm im như chưa có chuyện gì. Cống đứng đó, ở trần, bụng dính đầy nhớt cá, thở hồng hộc.

Bà Năm nhìn nó. Rồi bà Năm cười. Lần đầu tiên Muội thấy bà Năm cười, cái miệng móm mém, mắt híp lại.

– Thằng nhỏ được. – Bà nói. – Gan cá lóc.

Bà lấy cái khăn rằn trên đầu xuống, ném cho Cống lau bụng. Từ đó tới cuối buổi, bà gọi Cống là "thằng Gan Cá Lóc", và Cống đi đứng ưỡn ngực ra như một ông tướng.

Con nhồng thì treo trên cái móc sắt dưới mái che. Nó nhìn người qua lại một hồi, rồi hét:

– Chào khách! Sửa đồng hồ hông?

Một bà khách giật mình, quay lại:

– Ủa, con nhồng ông Tư!

Rồi bà khác cũng quay lại. Rồi ông bán rau bên cạnh cũng đi qua coi. Ai cũng hỏi ông Tư đi đâu, đi bữa nào, con nhồng ai nuôi. Muội trả lời mỏi miệng. Mà lạ, người tới coi con nhồng, tiện tay mua luôn con cá. Tới bảy giờ rưỡi, ba thau cá đã vơi gần hết.

Lúc vãn khách, bà Năm múc nước dội cái thớt, dội cái nền. Bà ngồi xuống ghế đẩu, lấy cái quạt nan ra phe phẩy, nhìn hai đứa.

– Hỏi đi.

Muội nhìn bà.

– Hồi nãy mày nói con nhồng biểu mày hỏi tao. Thì hỏi đi.

– Dạ... – Muội ngẫm nghĩ. Ông Tư không dạy con nhồng câu hỏi nào hết. Ông chỉ dạy nó hai câu. Muội quyết định nói thẳng hai câu đó. – Dạ, tối hôm qua con nhồng nói: "Ba chục vòng, không hơn." Rồi nó nói: "Cá lóc nướng trui, hỏi bà Năm."

Bà Năm ngưng quạt. Bà nhìn Muội lâu lắm, lâu tới nỗi Muội tưởng mình nói sai cái gì. Rồi bà bật cười, một tiếng cười khàn khàn mà Cống sau này kể lại là "nghe như tiếng cái ghe máy nổ".

– Cái thằng cha Tư này. – Bà Năm lắc đầu. – Bày đặt. Già rồi còn bày đặt.

Bà đứng dậy, lục trong cái giỏ cói dưới gầm sạp. Bà lôi ra một bọc vải mùng trắng, cột túm bằng sợi thun. Bà đặt cái bọc vào tay Muội.

– Nó gửi tao bữa thứ Bảy. Nó nói đứa nào xách con nhồng tới, nói đúng hai câu đó, thì đưa. Đứa nào tới hỏi mà không nói được thì thôi, coi như nó gửi tao giữ luôn.

Muội mở cái bọc ra. Bên trong là một bình dầu nhỏ xíu bằng sắt tây, cái loại có vòi dài nhọn hoắt, đáy móp móp, bấm đáy là dầu chảy ra từng giọt. Dầu bên trong vàng trong như mật ong. Bên cạnh bình dầu là một miếng vải nỉ xanh gấp tư, sờ vào mịn mướt.

– Cái gì vậy bà?

– Dầu tra máy. Còn miếng nỉ để lau.

– Lau cái gì?

– Tao đâu biết. Thằng Tư nó đâu có nói. – Bà Năm ngồi xuống, phe phẩy quạt. – Nó chỉ dặn thêm một câu, biểu tao nói lại với đứa tới nhận.

– Câu gì bà?

Bà Năm hắng giọng. Bà nhại giọng ông Tư khàn khàn, run run ở cuối câu, nhại giống tới nỗi Cống phải bụm miệng:

– "Khế ngọt bến đò."

Hai đứa chờ. Bà Năm không nói thêm gì.

– Hết rồi hả bà?

– Hết. Có bấy nhiêu đó. – Bà Năm nhíu mày. – Mà nè, tụi bây đi đâu thì đi, đừng có làm cái gì nguy hiểm nghe chưa. Thằng Tư nó già lẩm cẩm, nó bày trò, chứ tụi bây là con nít.

Muội cúi đầu cảm ơn, gói cái bọc vải lại, cất vô túi áo. Muội vừa định đứng dậy thì nghe phía sau lưng có tiếng dép lẹp xẹp chạy đi.

Muội quay lại. Một cái nón kết quay ngược vừa khuất sau sạp rau muống.

– Thằng Bảnh! – Cống la lên.

Bà Năm cũng thấy. Bà đứng phắt dậy:

– Bảnh! Mày trốn việc nãy giờ ngồi rình đó hả! Bảnh!

Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng dép chạy xa dần, về phía mé sông.

– Nó nghe hết rồi. – Muội nói, mặt nóng ran.

– Nghe cái gì? – Bà Năm hỏi.

– Nghe "khế ngọt bến đò".

Bà Năm nhìn theo hướng thằng cháu nội chạy, rồi thở ra một hơi dài.

– Cái thằng. Ba nó chạy ghe hàng lên Sài Gòn, má nó đi làm xa, nó ở với tao từ hồi năm tuổi. Thằng Tư thương nó lắm, cho nó ngồi ở sạp, dạy nó cầm cái tua vít. Rồi tới hồi thằng Tư nói đi Sài Gòn, nó giận, nó hổng thèm ra tiễn. – Bà Năm lắc đầu. – Bây giờ nghe có trò, nó đâu có chịu thua.

Muội đứng im một lát. Muội nghĩ tới cái giọng của Bảnh hôm qua, cái giọng nói con nhồng dở ẹc. Hóa ra Bảnh không ghét con nhồng. Bảnh giận ông Tư.

– Bà ơi, – Cống hỏi, – bến đò là bến nào? Sa Đéc có cả chục cái bến.

– Bến đò ngang qua rạch, chỗ ông Sáu Lèo chèo đó. – Bà Năm chỉ tay về phía mé sông. – Cái bến có cây khế già, trái chua lè, chua tới nhăn mặt. Khế ngọt cái gì mà ngọt.

Muội chụp tay Cống:

– Đi!

Hai đứa chạy. Cái lồng chim lắc lư trong tay Muội, con nhồng dang cánh giữ thăng bằng, kêu "chéc chéc" bực bội. Bà Năm đứng ở sạp, chống nạnh, la với theo:

– Đi từ từ! Đừng có té xuống sông! Té xuống sông tao hổng vớt đâu đó!

Muội và Cống chạy qua dãy rau, qua dãy bánh, qua cái sạp trái cây chất toàn xoài cát với chôm chôm. Chạy qua gốc cây bàng to, qua đầu con hẻm lót gạch tàu. Mặt trời đã lên cao khỏi mái chợ, nắng hắt xuống mặt sông lấp lánh tới chói mắt.

Ở cuối con dốc đất dẫn xuống bến, có một cây khế già, thân sần sùi, cành vươn ra che nửa cái bến ván. Dưới gốc cây khế, có ai đó đang ôm thân cây mà rung lấy rung để. Trái khế xanh rớt lộp độp xuống mặt ván, lăn tòm xuống nước.

Cái nón kết quay ngược.

– Thằng Bảnh! – Cống la.

Bảnh quay lại, mặt đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng. Dưới chân nó, trái khế rụng đầy, trái nào cũng xanh lè, cũng chua. Nó chỉ tay vô mặt Muội:

– Kho báu của ông Tư là của tao! Tao biết ổng từ hồi tụi bây còn bú bình!

Rồi nó lại ôm thân cây khế, rung tiếp.

— Hết chương 2 —

Mục lục Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

  1. 1Con nhồng ở lại10 phút
  2. 2Bà Năm Cá Lóc10 phút đọc
  3. 3Khế ngọt bến đò10 phút đọc
  4. 4Chậu thứ mười10 phút đọc
  5. 5Căn phòng máy trên tháp9 phút đọc
  6. 6Muội ơi, mở cửa!10 phút đọc
  7. 7Giao kèo bảy ngày10 phút đọc
  8. 8Cái bụng của đồng hồ9 phút đọc
  9. 9Mười hai cái khấc9 phút đọc
  10. 10Đêm dông trên tháp chợ11 phút đọc
  11. 11Ba chục vòng, không hơn10 phút đọc

Về truyện này

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tú của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →