AI Truyện
Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

🧸 Truyện thiếu nhi

Chậu thứ mười

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ · Chương 4/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Chậu thứ mười

– Vàng! Đứng lại! Vàng!

Con chó vàng thắng gấp. Bốn cái chân nó trượt trên mặt đất, tạo thành bốn vệt dài. Nó đứng cách cái lồng chim chừng một sải tay, đuôi vẫy tít, lưỡi thè ra, sủa thêm một tiếng nhỏ xíu như để giữ thể diện.

Từ trong vườn, một người đàn bà đi ra. Dì đội cái nón lá, mặc áo bà ba hoa tím, tay cầm cái vòi nước còn chảy ròng ròng. Đó là dì Hai Kiểng. Người ta gọi dì là Hai Kiểng vì nhà dì trồng kiểng ba đời, ông nội dì trồng mai, ba dì trồng cúc, tới dì thì trồng bông giấy.

– Nó hổng cắn đâu. – Dì Hai nói. – Nó tưởng con nhồng là con gà. Ông Sáu chở khách qua mua kiểng hả?

– Khách đặc biệt. – Ông Sáu nói từ dưới đò. – Khách của thằng Tư.

Rồi ông bóp kèn một tiếng, quay đầu đò chạy về, để lại ba đứa con nít đứng trên bờ với con chó vàng và cái lồng chim.

Dì Hai nghe tới tên ông Tư thì tắt vòi nước. Dì nhìn con nhồng một hồi.

– Con nhồng của chú Tư Rỗi. Chú đi rồi hả?

– Dạ, sáng hôm qua. – Muội nói.

Dì Hai gật gật, im lặng một lúc. Rồi dì hỏi:

– Mấy đứa qua đây có chuyện gì?

Muội kể. Muội kể từ cái chốt lồng tới câu "ba chục vòng", từ bà Năm tới cái bình dầu, từ ông Sáu tới quả bóp kèn. Cống chen vào kể đoạn chui xuống bùn, kể hơi dài, có thêm một con rắn mà Muội chắc chắn là không có. Bảnh đứng sau, không nói gì, nhưng tai thì vểnh lên.

Kể xong, Muội nói:

– Rồi con nhồng nói: "Bông giấy đỏ, chậu thứ mười."

Dì Hai bật cười, rồi lại thôi cười. Dì đưa tay chỉ ra sau lưng.

– Con coi đi.

Ba đứa nhìn theo tay dì. Và ba đứa cùng há miệng.

Vườn kiểng của dì Hai không phải một khu vườn. Nó là một cánh đồng. Những dãy chậu sành nối nhau chạy dài tít tắp tới tận hàng dừa nước đằng xa, dãy nào cũng thẳng băng như kẻ chỉ. Chậu to có, chậu nhỏ có. Chậu nào cũng một cây bông giấy uốn tỉa, cây thì tròn như cái nấm, cây thì xòe như cây dù, cây thì uốn lượn như con rồng. Bông đỏ, bông hồng, bông cam, bông trắng, bông tím. Nhưng nhiều nhất là bông đỏ. Đỏ chói, đỏ rực, đỏ tới nỗi nắng chiếu vào là cả vườn như bốc lửa.

– Vườn dì có chừng một ngàn hai trăm chậu. – Dì Hai nói. – Chậu bông đỏ chắc phải sáu bảy trăm. Chậu thứ mười, là thứ mười đếm từ đâu?

Không ai trả lời được.

– Đếm từ cổng. – Cống nói.

Vậy là ba đứa ra cổng. Cổng vườn là hai cây cột gạch, gắn tấm cửa sắt lưới B40. Cống đứng ở cổng, đếm chậu bông giấy đỏ ở dãy đầu tiên, từ trái qua phải. Một, hai, ba... mười. Chậu thứ mười là một cây bông giấy đỏ tròn xoe như trái banh. Muội nhấc cái chậu lên, nặng muốn gãy lưng. Bên dưới chỉ có một cái đĩa lót, mấy con kiến, một con trùn đất ngoe nguẩy.

– Đếm từ phải qua trái. – Cống nói.

Đếm từ phải qua trái. Chậu thứ mười cũng không có gì.

– Đếm dãy thứ hai.

– Thôi đi. – Bảnh nói, lần đầu tiên từ lúc lên bờ. – Đếm vậy tới mai cũng không hết. Có mấy chục dãy.

– Vậy anh nói đếm từ đâu? – Muội quay lại.

Bảnh nhún vai. Nhưng Muội thấy Bảnh không nhún vai kiểu chê bai như hôm qua. Bảnh nhún vai kiểu đang nghĩ.

Dì Hai mời ba đứa vô nhà uống nước. Nhà dì là một căn nhà gỗ ba gian, mái ngói, hiên rộng, trước hiên kê cái bộ ván gõ bóng lưỡng. Dì rót cho mỗi đứa một ly nước mía đá, mua ở xe nước mía đầu xóm, năm ngàn một ly. Cống uống một hơi hết sạch, rồi ngồi gặm cục đá.

– Chú Tư hay qua đây lắm. – Dì Hai kể. – Tháng nào chú cũng qua một hai lần. Chú đâu có mua kiểng. Nhà chú đâu có chỗ để kiểng. Chú qua ngồi chơi.

– Ổng ngồi ở đâu dì? – Muội hỏi.

– Chú hổng ngồi. Chú đi ra ngoài bờ rạch, đứng đó. – Dì Hai chỉ tay ra phía sau vườn, phía mé nước. – Chú nói đứng đó thấy cái này cái kia. Dì cũng không để ý chú thấy cái gì.

Bảnh đặt ly nước mía xuống bộ ván, đánh "cạch" một cái.

– Con biết ổng thấy cái gì. – Bảnh nói. Cả ba người quay qua nhìn nó. Nó đỏ mặt, nhưng nói tiếp. – Hồi đó con ngồi ở sạp ổng, con hỏi ổng: sao ông sửa đồng hồ chợ mà ông không bao giờ đứng dưới chân tháp coi nó? Ổng nói, đứng dưới chân thì ngó lên chỉ thấy cái bụng nó. Muốn thấy nó đẹp thì phải đứng bên kia sông.

Muội đứng bật dậy.

– Dì Hai ơi, chỗ ông Tư đứng là chỗ nào?

Dì Hai dắt ba đứa đi qua mấy dãy chậu, ra tới mé rạch phía sau vườn. Ở đó có một khoảng đất trống nhỏ, sát bờ, một bên là bụi dừa nước, một bên là gốc bần. Cỏ ở đó bị giẫm mòn thành một khoảng tròn nhỏ, cỡ hai bàn chân người lớn đứng.

– Chỗ này nè.

Muội bước vô khoảng cỏ mòn, đứng đúng vào đó. Muội ngẩng lên.

Ngay trước mặt, bên kia sông, giữa hai thân dừa nước như một cái khung cửa sổ, là cái tháp chợ Cầu Ván. Đứng ở đây, Muội thấy trọn cả cái tháp: mái ngói đỏ, cái tháp vuông bốn mặt, những ô cửa chớp nhỏ màu xanh, và cái mặt đồng hồ tròn trắng, hai cây kim đen. Trời sáng trong vắt. Nắng chiếu xiên làm cái mặt đồng hồ sáng lên như mặt trăng mọc ban ngày.

– Đẹp ghê. – Cống nói nhỏ.

Muội không nói gì. Muội nhìn xuống chân. Từ chỗ đứng đó, bên tay trái Muội, có một dãy chậu bông giấy chạy dọc theo bờ rạch, dãy cuối cùng của vườn. Muội bắt đầu đếm, đếm từ cái chậu gần chân mình nhất. Một, hai, ba, bốn...

Cái chậu thứ mười không giống mấy chậu kia. Nó là một chậu sành cũ, men xanh đã nứt chân chim. Cây bông giấy trong đó không cao, nhưng gốc to xù, sần sùi, vặn vẹo như một ông già đang ngồi khom lưng. Bông của nó đỏ thẫm, đỏ hơn hết thảy những cây khác.

– Cây này chú Tư gửi dì hồi mười mấy năm trước. – Dì Hai nói, giọng hơi ngạc nhiên. – Chú nói nhà chú nắng không tới, cây hổng ra bông. Dì để nó ở đây luôn. Dì quên mất là cây của chú.

Muội và Bảnh cùng ngồi xuống. Hai đứa nhìn nhau một giây. Rồi hai đứa cùng nắm vành chậu, nhấc lên. Cái chậu nặng, nhưng hai đứa nhấc được.

Dưới chậu có cái đĩa lót bằng sành. Trong đĩa lót, nằm gọn trong lớp đất ẩm, là một gói ni lông màu xanh dương, quấn nhiều lớp, cột chặt bằng sợi dây thun.

Cống quỳ xuống, bóc gói ni lông bằng mấy ngón tay run run. Bóc lớp thứ nhất. Lớp thứ hai. Lớp thứ ba. Bên trong là một cái chìa khóa.

Một cái chìa khóa sắt to gần bằng bàn tay Cống, đen bóng, cán tròn như cái nhẫn, răng chìa thô kệch như răng cái lược sắt. Kiểu chìa khóa người ta chỉ còn thấy ở những cánh cửa thiệt xưa.

– Kho báu. – Cống thì thào.

– Đâu phải kho báu. – Bảnh nói. Rồi Bảnh im, cầm cái chìa lên, xoay xoay. Mắt nó sáng lên. – Tao biết cái chìa này. Hồi đó tao thấy ông Tư đeo nó ở thắt lưng. Đi đâu ổng cũng đeo. Đây là chìa khóa cửa tháp chợ.

Không ai nói gì một lúc lâu. Gió từ sông thổi vô, mấy chùm bông giấy đung đưa, rụng lả tả mấy cánh đỏ lên tóc Cống.

– Ổng giấu chìa khóa cửa tháp. – Muội nói chậm rãi. – Ổng giấu bên này sông, dưới cái chậu chỉ đứng đúng chỗ ổng đứng mới đếm ra.

– Mà sao ổng phải giấu? – Cống hỏi. – Sao ổng không đưa cho ai?

Không ai trả lời được câu đó.

Bảnh vẫn cầm cái chìa khóa. Nó cầm chặt, mấy ngón tay trắng bệch. Muội nhìn tay Bảnh, rồi nhìn mặt Bảnh. Muội biết Bảnh đang nghĩ gì, vì Muội cũng đang nghĩ y vậy: ai giữ cái chìa này?

– Tao biết ổng trước. – Bảnh nói, nhưng giọng không chắc như hồi sáng.

– Ông Tư đưa con nhồng cho em. – Muội nói. – Con nhồng dẫn mình tới đây.

– Thằng Cống lượm quả bóp kèn. – Cống nói thêm, rồi tự đỏ mặt vì nói tên mình.

Ba đứa đứng im. Con Vàng chạy tới hửi hửi cái chìa khóa, rồi hắt xì một cái rõ to. Dì Hai bụm miệng cười.

Bảnh nhìn cái chìa khóa một hồi lâu. Rồi nó chìa ra cho Muội.

– Mày giữ. – Nó nói. – Mày có cái lồng. Lỡ còn câu nào nữa thì con nhồng nói với mày chứ đâu có nói với tao. Nhưng mà đi đâu mày phải kêu tao. Không kêu là tao giận.

Muội cầm lấy. Cái chìa nặng trĩu trong tay, còn ấm hơi tay của Bảnh.

Dì Hai giữ ba đứa lại ăn cơm trưa: cơm trắng, cá kèo kho tộ, canh chua bông điên điển vàng ươm. Cống ăn ba chén. Ăn xong ba đứa phụ dì tưới hết hai dãy chậu, vì dì nói tưới bông giấy phải tưới gốc chứ không tưới lá, mà con Vàng thì cứ đi theo đớp tia nước. Chiều, dì gọi ông Sáu qua rước. Chiếc đò rời bến lúc trời đã xế, nắng vàng như nghệ trải dài trên mặt rạch.

Muội ngồi ở mũi đò, tay nắm chặt cái chìa khóa trong túi. Bảnh ngồi bên cạnh, lần này không ngồi ở đuôi đò nữa. Cống ngồi ôm cái lồng chim, gật gà gật gù.

Đò gần cập bến thì ông Sáu bỗng tắt máy. Chiếc đò trôi lững lờ.

– Mấy đứa. – Ông Sáu nói, giọng là lạ. – Ngó lên coi.

Ba đứa ngó lên cái tháp chợ.

Cây kim dài chỉ số hai. Cây kim ngắn mới nhích qua khỏi số bốn một chút. Bốn giờ mười.

Ông Sáu giơ cái đồng hồ cột kẽm lên.

– Đồng hồ tao bốn giờ bốn mươi.

Muội nhìn chằm chằm vào cây kim dài trên mặt đồng hồ chợ. Muội nhìn lâu, lâu lắm, chờ nó nhích. Ở khoảng cách này, cây kim dài như cây dầm nhích một phút là thấy liền.

Cây kim không nhích.

– Đồng hồ chợ đứng rồi. – Bảnh nói. Giọng nó nhỏ xíu, không còn chút oai nào.

Và đúng lúc đó, từ chân tháp chợ, có một người đàn ông mặc áo sơ mi xanh, đội nón bảo hiểm, đang đứng chống nạnh, ngẩng đầu ngó lên mặt đồng hồ. Bên cạnh chú, hai người khác đang khiêng xuống từ thùng xe ba gác một cái thang nhôm dài ngoằng.

— Hết chương 4 —

Mục lục Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ

  1. 1Con nhồng ở lại10 phút
  2. 2Bà Năm Cá Lóc10 phút đọc
  3. 3Khế ngọt bến đò10 phút đọc
  4. 4Chậu thứ mười10 phút đọc
  5. 5Căn phòng máy trên tháp9 phút đọc
  6. 6Muội ơi, mở cửa!10 phút đọc
  7. 7Giao kèo bảy ngày10 phút đọc
  8. 8Cái bụng của đồng hồ9 phút đọc
  9. 9Mười hai cái khấc9 phút đọc
  10. 10Đêm dông trên tháp chợ11 phút đọc
  11. 11Ba chục vòng, không hơn10 phút đọc

Về truyện này

Con nhồng Út Hét và đồng hồ tháp chợ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tú của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →