Chương 10: Đêm dông trên tháp chợ
– Ba! Ba ơi! Cửa chớp trên tháp bị bật!
Muội chạy xuống cầu thang trong bóng tối, chân đá trúng cái ghế nhựa, đau điếng mà không dám dừng. Dưới nhà, ba Muội đang thắp cây đèn dầu, ánh lửa vàng run rẩy trên mặt ba. Má đang lấy thau hứng chỗ dột ở góc bếp. Cống ngồi trên ghế, ôm cái gối, mặt tái mét mỗi lần sấm nổ.
Ba Muội nghe Muội kể, đi ra cửa, he hé cánh cửa nhìn lên tháp. Gió thốc vô, tạt mưa ướt nửa người ba. Một tia chớp lóe lên. Muội thấy mặt ba đổi màu.
– Mưa tạt vô phòng máy. – Ba nói. – Mà cái cửa chớp đó đập mạnh vậy, lỡ nó gãy bản lề, rớt xuống cái lỗ quả lắc...
Ba không nói hết câu. Nhưng Muội hiểu. Một tấm cửa gỗ rớt xuống cái lỗ sàn, đè lên cây quả lắc. Quả lắc đứng. Đồng hồ đứng. Còn đúng một đêm, một buổi sáng nữa thôi.
Ba Muội lấy áo mưa, lấy đèn pin, lấy cuộn dây kẽm, lấy cây kìm.
– Ba đi. Con ở nhà.
– Con có chìa khóa cửa tháp. – Muội nói.
Ba Muội đứng lại. Muội rút cái chìa khóa sắt trong túi quần ra, sợi dây dù đỏ vẫn còn cột ở cán. Muội không đưa cho ba. Muội nắm chặt.
– Ông Tư đưa cho con. – Muội nói. – Con đi với ba.
Ba Muội nhìn Muội một hồi lâu trong ánh đèn dầu. Má Muội ngưng tay, nhìn hai cha con. Cuối cùng, má nói:
– Mặc áo mưa vô. Đi sát ba. Ba nói gì nghe nấy.
Cống nhảy xuống ghế.
– Em đi với!
– Em ở nhà. – Muội nói. – Em làm việc này.
Muội lấy cái đèn pin nhỏ của má, đưa cho Cống. Muội chỉ lên cửa sổ trên lầu, cái cửa sổ ngó thẳng ra tháp chợ.
– Em lên đó, ngồi canh. Ở trong tháp tối thui, chị với ba không biết cửa nào bị bật. Em ngó cho kỹ, rồi lấy điện thoại má gọi cho ba. Em nói cho ba biết cửa nào, ở chỗ nào.
Cống nắm cái đèn pin, gật đầu lia lịa, mặt vẫn còn tái mà mắt sáng lên. Nó chạy lên lầu, chân trần đập bành bạch trên cầu thang.
Muội với ba lội ra đường. Nước mưa ngập tới mắt cá, chảy cuồn cuộn về phía mé sông. Gió giật một cái, cái áo mưa của Muội phồng lên như cánh buồm, kéo Muội lảo đảo. Ba Muội nắm chặt tay Muội. Hai cha con đi sát vách nhà, đi sát mái hiên, qua đầu dãy hàng khô, tới chân tháp.
Ở chân tháp, có hai cái bóng đứng sẵn. Một cái bóng cao, đèn pin lắc lư, bộ đàm kêu rè rè. Một cái bóng thấp hơn, áo mưa xanh ướt sũng từ đầu tới chân, cái nón kết đội ngay ngắn dưới mũ áo mưa.
– Anh Bảnh!
– Tao ngó từ nhà nội thấy cái cửa đập. – Bảnh nói, răng va vào nhau lập cập. – Nội dắt tao qua kêu chú Hiển, rồi nội về coi nhà. Tao biết mày sẽ tới.
Cái bóng cao là chú Hiển. Chú nhìn ba Muội, nhìn hai đứa con nít, rồi nhìn lên tháp, thở dài.
– Tôi biết thế nào nhà anh cũng ra đây. – Chú nói với ba Muội. – Thôi đi. Mở cửa đi con.
Muội tra chìa khóa. Tay Muội ướt, lạnh, run, tra hai lần mới trúng lỗ. Cái ổ khóa kêu "cục". Cánh cửa sắt rít lên, lẫn vào tiếng gió.
Bên trong tháp, tiếng gió nghe khác hẳn. Nó không quất, không giật như bên ngoài. Nó hú. Nó hú dọc theo cái cầu thang gỗ, hú qua mấy khe cửa chớp, hú lên tận nóc tháp, như ai đang thổi vào cái chai rỗng khổng lồ. Bầy dơi trên cao im phăng phắc. Nước mưa nhỏ tong tong từ đâu đó trên đầu, rơi xuống mấy bậc thang, làm bậc thang trơn trượt.
– Đi chậm. – Ba Muội nói. – Tay vịn, chân đặt chắc.
Cả bốn người leo. Ba đi đầu, Muội, Bảnh, chú Hiển đi sau chót rọi đèn. Lên tới chiếu nghỉ thứ ba, điện thoại của ba reo. Ba bắt máy, mở loa ngoài.
– Ba ơi! – Giọng Cống, lạc đi vì gió. – Cái cửa ở bên trái! Bên trái cái mặt đồng hồ, nhìn từ nhà mình! Cái cửa thứ hai từ trên xuống!
– Bên trái nhìn từ nhà mình là bên phải nhìn từ trong ra. – Muội nói nhanh.
– Giỏi. – Ba nói. Không rõ ba khen Muội hay khen Cống.
Lên tới phòng máy, tiếng đập nghe rõ mồn một. "Rầm. Rầm. Rầm." Ba rọi đèn. Ở bức tường bên phải, ô cửa chớp thứ hai đang đập qua đập lại. Cái bản lề trên đã sút hết hai con ốc, cánh cửa lủng lẳng chỉ còn dựa vào cái bản lề dưới. Mỗi lần gió giật, cánh cửa bật mở tung ra ngoài rồi đập ngược vô tường, mưa tạt vô theo từng đợt, hắt ướt cả một góc sàn. Nước chảy lênh láng, chảy ngoằn ngoèo trên sàn gỗ, chảy về phía cái lỗ quả lắc.
Còn cái máy thì vẫn chạy. Cây quả lắc vẫn đong đưa dưới lỗ sàn, đều đặn, chậm rãi, như không biết gì hết. "Cách. Cách. Cách."
– Giữ đèn cho ba. – Ba Muội nói.
Muội cầm đèn pin, rọi vào cái cửa. Ba Muội bước tới, chờ cánh cửa đập vô tường, rồi chụp lấy, ghì chặt. Gió giật một cái, cánh cửa giằng ra, kéo ba Muội chúi về phía trước. Chú Hiển nhào tới, ôm ngang hông ba Muội. Bảnh nhào tới, nắm lấy mép cánh cửa. Ba người ghì cánh cửa vô khung.
– Kẽm! – Ba Muội la. – Muội! Cuộn kẽm trong túi áo ba!
Muội móc cuộn kẽm ra. Ba Muội một tay giữ cửa, một tay cầm kìm, quấn sợi kẽm qua cái khoen của cánh cửa, qua cái khoen trên khung. Nhưng sợi kẽm ngắn quá, quấn được một vòng thì hết. Cánh cửa vẫn lỏng lẻo, gió giật một cái là sợi kẽm kêu ken két.
– Không đủ. – Ba Muội nói qua kẽ răng. – Còn cái gì cột được không?
Muội nhìn quanh. Không có gì. Giẻ lau trên kệ cứng ngắc, mục nát. Cái nón lá rách dưới gầm bệ máy. Muội nhìn xuống tay mình.
Cái chìa khóa sắt. Sợi dây dù đỏ.
Muội tháo sợi dây dù đỏ ra khỏi cán chìa khóa. Sợi dây đã cột cửa lồng con nhồng, đã làm quả lắc thử nghiệm ở bậc cửa nhà. Sợi dây dù, loại dây người ta dùng cột ghe, chắc lắm.
– Ba! Dây nè!
Ba Muội cầm lấy. Ba quấn sợi dây đỏ qua khoen cửa, qua khoen khung, quấn ba vòng, bốn vòng, rồi thắt một cái gút. Ba thắt một cái gút chéo hai vòng, kiểu dân miệt sông vẫn cột ghe, giống y cái gút ông Sáu cột ngang bụng Cống hôm trước. Cánh cửa chớp đứng im trong khung. Gió đập vô nó từ bên ngoài, nó rung lên, nhưng không mở ra nữa.
Bốn người đứng thở hổn hển trong căn phòng máy tối om. Nước mưa nhỏ giọt từ áo mưa xuống sàn. Ngoài kia gió vẫn hú, nhưng tiếng "rầm rầm" đã tắt.
Rồi Muội nghe một tiếng "ầm" của bánh răng ngay trên đầu. Muội chưa kịp hiểu thì cái búa sắt đã nện vào chuông.
"BOONG."
Tiếng chuông từ ngoài nghe đã to. Ở ngay dưới cái chuông thì nó không còn là tiếng nữa. Nó là một cú đấm vào ngực. Cả cái tháp rung lên. Muội bịt tai, Bảnh bịt tai, chú Hiển suýt làm rớt đèn pin.
"BOONG. BOONG. BOONG."
Mười tiếng. Mười giờ đêm. Mười tiếng chuông rung khắp cái tháp, rung tới tận chân cầu thang, đổ vào trong mưa, lan ra khắp cái xóm chợ đang cúp điện tối thui.
Khi tiếng chuông cuối cùng tắt, Bảnh cười. Bảnh cười to, cười ngặt nghẽo, cười tới nỗi phải ngồi bệt xuống sàn ướt. Muội cũng cười. Chú Hiển cũng cười. Ba Muội lắc đầu, lau nước mưa trên mặt, cũng cười.
Điện thoại của ba lại reo. Ba bật loa ngoài. Giọng Cống la lên, lẫn trong tiếng mưa:
– Ba ơi! Nghe chuông ở nhà nè! Má nói cả xóm mở cửa ra coi kìa!
Bốn giờ rưỡi sáng thứ Bảy. Ngày thứ bảy.
Mưa đã tạnh. Gió đã lặng. Cả xóm chợ còn cúp điện, tối như mực, đường sá ngổn ngang lá cây, nhánh cây gãy, một tấm bạt xanh của ai bay mắc trên cây điện. Mặt sông thì vẫn còn dữ, sóng nhấp nhô đục ngầu, từng đám lục bình với nhánh cây trôi cuồn cuộn.
Ba đứa ngồi dưới gốc khế, trên mấy cái bao tải ông Sáu trải cho. Lần này có thêm người. Chú Hiển đứng bên cạnh, tay cầm điện thoại, màn hình sáng xanh trong bóng tối. Bà Năm cũng tới, khoác cái áo mưa, tay cầm cái đèn bão. Dì Hai Kiểng ở bên kia sông, không qua được, nhưng dì gọi điện qua máy bà Năm, nói dì đứng ở chỗ ông Tư đứng, đang ngó qua.
Ông Sáu Lèo đứng trên bến, nhìn mặt sông, lắc đầu.
– Nước dữ quá. Sáng nay tao hổng chạy đò được. Chạy ra là lật.
Cống nhìn ông Sáu, mặt xịu xuống.
– Vậy hổng có kèn hả ông?
– Ai nói hổng có kèn. – Ông Sáu nói. Ông bước lên chiếc đò cột chặt vô gốc khế, đứng ở mũi đò. Một tay ông nắm quả bóp cao su, một tay giơ cái đồng hồ cột kẽm lên trước đèn bão của bà Năm. – Đò không chạy, chứ kèn thì vẫn bóp.
Mọi người im lặng. Từ phía chợ, trong bóng tối, đã có tiếng lạch cạch của mấy chiếc xe ba gác. Bạn hàng tới nhóm chợ. Không có đèn đường, không có cái đồng hồ đỏ trên cổng chợ, người ta đi lò dò trong tối, có người cầm đèn pin, có người cầm cây nến. Có người đứng lại dưới chân tháp, ngẩng đầu, chờ.
Muội ngẩng đầu. Muội không thấy được cái mặt đồng hồ trong bóng tối. Muội chỉ thấy cái bóng tháp đen hơn nền trời một chút.
Rồi trên tháp, có tiếng "ầm" của bánh răng.
"Boong."
Ông Sáu bóp kèn. "Bô... ô... ô... ô... ông!"
Tiếng chuông với tiếng kèn vang lên cùng một lúc, quyện vào nhau, lan trên mặt sông, lan qua bên kia bờ, nơi có một khoảng cỏ mòn giữa hai thân dừa nước.
"Boong. Boong. Boong. Boong."
Chú Hiển giơ cái điện thoại lên. Màn hình sáng xanh hiện mấy con số: năm giờ, không phút.
Chú nhìn cái điện thoại một hồi lâu. Rồi chú nhét nó vô túi áo mưa, quay qua ba đứa con nít ngồi trên bao tải, gật đầu một cái.
– Bảy. – Chú Hiển nói. – Bảy buổi sáng.
Từ phía chợ, trong tối, có tiếng ai đó la lên, rồi tiếng người ta vỗ tay, lẹt đẹt, rồi rần rần. Bạn hàng vỗ tay. Mấy chú khiêng thau cá vỗ tay. Có người huýt sáo. Bà Năm không vỗ tay. Bà đặt cái đèn bão xuống, kéo thằng Bảnh lại, ôm chặt cái đầu nó vô bụng, ôm chặt tới nỗi cái nón kết của nó rớt luôn xuống đất.
Rồi bà buông Bảnh ra, quay qua Muội. Bà móc trong túi áo bà ba ra một mảnh giấy nhỏ, gấp tư, đã sờn mép.
– Thằng Tư dặn tao. – Bà Năm nói. – Nó dặn chừng nào cái đồng hồ chạy lại, chạy cho đàng hoàng, thì mới đưa cái này cho tụi bây. Chưa chạy thì đừng đưa, nó nói, đưa sớm tụi nhỏ gọi hỏi nó, nó nói hết, tụi nhỏ hổng tự làm.
Muội cầm lấy mảnh giấy. Muội mở ra, dưới ánh đèn bão. Bên trong là một dãy số điện thoại, nét chữ run run, và bên dưới là một dòng chữ nhỏ hơn nữa.
— Hết chương 10 —

🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe