Chương 1: Hai nửa con cá trên mặt bàn
Con cá lia thia bằng gỗ nằm trên mặt bàn, bị bổ làm hai nửa, ruột rỗng.
Đó là thứ đầu tiên tôi thấy khi mở cửa căn phòng của Ly Na lúc năm giờ năm phút sáng thứ Bảy. Không phải cái điện thoại của cô ấy nằm úp ngay cạnh. Không phải con mèo tam thể tên Cốm đang kêu ngao ngao vì đói. Mà là hai nửa con cá, nằm cạnh nhau như hai cái vỏ trấu, mặt trong trắng hếu, chính giữa có một cái hốc tròn nhỏ cỡ đầu ngón tay cái.
Tôi tên là Lâm Hạo, ba mươi mốt tuổi, làm kỹ sư phần mềm cho một công ty bên Úc, ngồi nhà làm từ xa. Tôi kể lại chuyện này vì cô công an bảo mỗi người trong nhóm nên viết ra những gì mình nhớ, càng sớm càng tốt, trước khi trí nhớ tự sửa lại cho vừa ý mình. Tôi thấy cô ấy nói đúng. Tôi là người chuộng chính xác.
Bốn giờ bốn mươi sáng hôm ấy, chú Sáu Tựu gọi cho tôi. Chú Sáu là người chung ghe du lịch với Na, hai chú cháu chở khách đi chợ nổi Cái Răng lúc rạng sáng, sáng nào cũng xuất bến lúc năm giờ đúng. Chú bảo con Na chưa ra, gọi hoài không bắt máy, khách Tây ngồi trên ghe chờ rồi, chú không biết số ai khác.
Tôi đang thức. Tôi hay dậy sớm, giờ bên Úc nhanh hơn mình bốn tiếng, sáng sớm là lúc tôi họp. Tôi bảo chú cứ chạy chuyến đó đi, để con qua coi.
Phòng trọ của Na ở tầng ba một dãy nhà bốn tầng trong hẻm đường Ba Tháng Hai, gần bến Ninh Kiều. Tôi có chìa khoá dự phòng. Na đưa cho tôi từ năm ngoái, hồi cô ấy lên Sài Gòn học lớp nghiệp vụ hướng dẫn viên ba ngày, nhờ tôi ghé cho con Cốm ăn. Sau đó cô ấy quên đòi lại, tôi cũng quên trả. Cả nhóm ai cũng biết tôi giữ chìa. Kiều còn hay ghẹo tôi là quản gia của nhà Na.
Chiếc xe tay ga màu xanh ngọc của Na vẫn đậu trong nhà xe tầng trệt, đúng chỗ cũ, sát cột. Trời còn tối, hẻm vắng, có tiếng bà bán bánh tằm bì đầu hẻm đang chặt lá chuối. Trưa nào chạy ghe về, Na cũng ghé hàng bà ăn một dĩa, ngồi đúng cái ghế nhựa sát gốc me. Tôi biết vì có mấy lần tình cờ tôi đi ngang.
Cửa phòng khoá. Tôi mở.
Đèn tắt. Tôi bật đèn. Căn phòng hai mươi mét vuông, gọn như mọi khi. Giường kê sát cửa sổ, chăn gấp. Cái bàn gỗ nhỏ kê giữa phòng, trên bàn là con cá, cái điện thoại, một ly nước còn phân nửa, một con dao rọc giấy lưỡi đã đẩy ra. Con Cốm nhảy từ trên tủ xuống, quấn quanh chân tôi kêu. Chén ăn của nó trống trơn.
Con cá ấy tôi biết. Ai trong nhóm cũng biết. Nó là cái móc khoá Na đeo vào chùm chìa khoá xe từ tháng Ba năm nay, từ sau tiệc sinh nhật ba mươi tuổi của cô ấy. Một con cá lia thia dài cỡ ba đốt ngón tay, đẽo bằng gỗ vú sữa, thớ mịn màu kem, cái đuôi xoè ra như cái quạt, vây lưng khắc từng sợi, mắt chấm hai giọt sơn đen. Gỗ vú sữa đẽo thì đẹp, vân lượn như nước, nhưng hút ẩm nên phải phết một lớp dầu mỏng. Con cá ấy có phết dầu, cầm lên thấy trơn tay.
Món quà ấy không có thiệp. Hôm sinh nhật, quà để đầy trên bàn, lúc mở ra thì cái túi giấy đựng con cá không ghi tên ai. Na hỏi một vòng, không ai nhận. Rồi cả bàn quay sang nhìn Khương, vì Khương nuôi cá lia thia, ban công nhà nó ở Cái Khế có cả chục cái hũ thuỷ tinh, mỗi hũ một con, đỏ, xanh, tím. Khương lúc ấy đã chia tay Na được hơn một tháng. Nó không nhận, cũng không chối, chỉ đỏ mặt rồi bỏ ra ngoài hút thuốc. Từ đó cả nhóm mặc định con cá là của Khương.
Na vẫn đeo nó. Bảy tháng trời. Tôi chưa từng thấy cô ấy tháo ra.
Vậy mà sáng hôm ấy nó nằm trên mặt bàn, bị bổ đôi. Tôi cầm hai nửa con cá lên, áp lại với nhau. Khớp. Đường bổ ngọt, đúng sống lưng, như có người kê lưỡi dao rọc giấy vào rồi gõ một cái. Mặt trong có một lớp sáp vàng nhạt bám quanh cái hốc tròn. Hốc trống.
Tôi bỏ hai nửa con cá vào túi áo khoác. Con Cốm đang rình trên mép bàn, mèo hay tha mấy thứ nhỏ nhỏ xuống gầm giường, tôi sợ nó làm mất. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ vậy.
Cái điện thoại của Na úp mặt xuống. Tôi lật lên. Màn hình khoá, ảnh nền là con Cốm nằm ngửa bụng. Mật khẩu là ngày mất của má Na, mười bốn tháng chín. Na từng bấm trước mặt tôi nhiều lần, cô ấy không giấu. Tôi mở máy ra xem có tin nhắn hay cuộc gọi nào cho biết cô ấy đi đâu.
Cuộc gọi cuối cùng là cuộc gọi đi, lúc mười một giờ bốn mươi tám phút tối thứ Sáu, tới số của Kiều. Ba phút mười hai giây.
Sau đó không có gì. Không tin nhắn, không cuộc gọi, không đặt xe. Sáu cuộc gọi nhỡ của chú Sáu Tựu từ bốn giờ hai mươi sáng.
Tôi cho con Cốm ăn. Tôi đứng giữa phòng nhìn quanh một lượt. Tủ quần áo hé cửa, cái ba lô vải màu rêu Na hay mang đi tour không còn trên móc. Bàn chải đánh răng không còn trong ly. Cái hộp nhựa đựng giấy tờ trên nóc tủ cũng không thấy. Đôi dép tổ ong đi trong nhà nằm ngay chân giường. Đôi giày vải màu trắng thì không.
Tôi gọi cho Kiều trước. Kiều là bạn thân nhất của Na từ hồi hai đứa cùng phòng ký túc xá năm nhất, giờ làm dược sĩ, có nhà thuốc nhỏ gần chợ Xuân Khánh, có chồng và một đứa con trai ba tuổi. Kiều bắt máy ở hồi chuông thứ hai, giọng tỉnh như đang chờ điện thoại.
– Ông Hạo hả? Chuyện gì sớm vậy?
– Na không ra bến. Tui đang ở phòng Na. Na không có ở đây, điện thoại để lại, xe để lại.
Đầu dây bên kia im một lúc.
– Tui qua liền.
Rồi tôi gọi cho Khương. Khương lái xe đông lạnh chở cá tra từ các trại nuôi về nhà máy, giờ này thường đã chạy được nửa đường. Gọi ba lần nó mới bắt máy. Giọng nó khàn đặc, như người thức trắng.
– Gì?
– Na mất tích rồi. Mày qua phòng Na được không?
Khương im lặng lâu hơn Kiều. Lâu tới mức tôi tưởng máy rớt sóng.
– Mất tích là sao?
– Là không có ở nhà, không có ở bến, để lại điện thoại.
– Tao tới liền.
Kiều tới lúc năm giờ bốn mươi, tóc buộc vội, mặc nguyên bộ đồ ngủ hình con gấu, khoác thêm cái áo khoác của chồng. Kiều đứng ở cửa nhìn cái bàn, nhìn con Cốm đang ăn, nhìn tôi. Tôi kể những gì tôi thấy. Lúc tôi kể tới cái điện thoại, Kiều cắt ngang.
– Ông mở điện thoại nó ra coi hả?
– Tui biết mật khẩu. Tui coi có tin gì không.
– Rồi có gì?
– Cuộc gọi cuối là gọi cho bà. Mười một giờ bốn mươi tám tối qua.
Kiều nhìn tôi. Mặt Kiều trắng ra, rồi đỏ lên ở hai gò má.
– Tối qua nó không có gọi tui, – Kiều nói.
– Trong máy ghi ba phút.
– Thì chắc nó bấm lộn. Tui ngủ từ mười giờ, điện thoại để ngoài phòng khách. Sáng nay tui có thấy gì đâu.
Tôi gật đầu. Tôi không cãi. Tôi biết cuộc gọi kéo dài ba phút mười hai giây thì không phải bấm lộn, vì bấm lộn mà không ai nghe thì máy chỉ ghi là cuộc gọi đi không trả lời. Ba phút mười hai giây là có người nhấc máy. Tôi để đó. Kiều là bạn thân nhất của Na. Nếu Kiều nói dối thì Kiều có lý do của Kiều.
Khương tới lúc sáu giờ hai mươi. Nó chạy chiếc xe số yên rách dán băng keo đen, đậu ở đầu hẻm, đi bộ vào, người nồng mùi thuốc lá. Bàn tay phải nó quấn một miếng băng gạc trắng, chỗ đốt ngón tay rịn ra một vệt đỏ.
– Tay mày sao vậy? – Kiều hỏi.
– Bể cái hũ cá, – Khương nói, không nhìn ai. – Tối qua.
Nó đứng giữa phòng, nhìn quanh. Nó nhìn cái bàn lâu nhất. Trên bàn lúc đó chỉ còn cái điện thoại, ly nước và con dao rọc giấy. Tôi để ý mắt nó lướt qua mặt bàn hai lần, như đang tìm một thứ phải có ở đó mà không thấy.
– Con cá đâu? – Khương hỏi.
– Cá nào? – Kiều hỏi lại.
– Cái móc khoá con cá. Nó đeo vô chìa khoá xe.
– Chìa khoá xe nó đem theo rồi, – tôi nói. Câu ấy đúng. Chùm chìa khoá xe không còn trong phòng.
Khương nhìn tôi một lúc, rồi quay đi, ra đứng ngoài hành lang hút thuốc.
Tôi kể lại cho đúng: tôi đã không nói với Khương là con cá đang nằm trong túi áo khoác của tôi. Lúc ấy tôi nghĩ, con cá là của Khương tặng. Bảy tháng Na đeo nó. Rồi một đêm, cái đêm Na biến mất, con cá bị bổ đôi. Cùng đêm ấy, Khương làm bể một cái hũ cá, đứt tay. Tôi không biết hai chuyện ấy có dính gì tới nhau không. Tôi chỉ biết nếu nó dính, thì người không nên cầm con cá ấy nhất là Khương.
Tám giờ, chúng tôi báo công an phường. Chín giờ, công an phường báo lên trên, vì người mất tích để lại điện thoại, giấy tờ tuỳ thân không thấy, nhà có dấu hiệu đi vội. Mười giờ, có một chị cảnh sát hình sự tới.
Chị ấy chừng gần bốn mươi, người nhỏ, da nâu sậm, tóc cột gọn sau gáy, mặc áo khoác gió màu xám. Chị giới thiệu là Đại úy Danh Thị Sà Phal, công an thành phố. Chị nói giọng miền Tây, nhưng có cái âm hơi cứng ở cuối chữ của người Khơ-me nói tiếng Việt. Na cũng có cái âm đó, mỗi lần cô ấy mệt hay giận. Má Na là người Khơ-me ở Trà Cú. Tết Chôl Chnăm Thmây năm kia cả nhóm về ngoại Na chơi ba ngày, ngủ trên bộ ván trong căn nhà sàn thấp sau hàng thốt nốt, đi chùa tắm tượng Phật, té nước nhau ướt hết. Đó là lần duy nhất tôi thấy Na cười suốt ba ngày liền.
Chị Phal đi một vòng căn phòng, không đụng vào thứ gì. Chị hỏi ai là người tới trước tiên. Tôi giơ tay.
– Anh vô bằng chìa khoá?
– Dạ. Chìa dự phòng, Na nhờ tôi giữ để cho mèo ăn.
– Anh vô rồi anh có đụng vô cái gì không?
– Tôi cho mèo ăn. Tôi coi điện thoại để coi Na có nhắn ai không. Tôi biết mật khẩu.
– Anh có lấy đi cái gì, dời cái gì không?
Tôi nhìn thẳng vào mắt chị ấy.
– Tôi cho mèo ăn, – tôi nói. – Vậy thôi chị.
Chị Phal gật đầu, ghi vào sổ. Chị quay sang hỏi Kiều. Kiều nói y như đã nói với tôi: tối qua ngủ sớm, không nghe điện thoại, chắc Na bấm lộn. Chị Phal không cãi, cũng ghi vào sổ. Rồi chị hỏi Khương về bàn tay. Khương nói bể hũ cá. Chị hỏi bể lúc mấy giờ. Khương nói khuya. Chị hỏi khuya là mấy giờ. Khương im một lúc rồi nói không nhớ.
Lúc ra về, tôi đi sau cùng. Xuống tới cầu thang tầng hai, tôi nghe sau lưng tiếng Kiều nói điện thoại với chồng, rất nhỏ, tưởng không ai nghe:
– Nó có gọi em, anh. Nó dặn em đừng nói ai. Anh đừng nói gì hết nghe.
Tôi không quay lại. Tôi đi tiếp xuống tầng trệt, ra hẻm. Bà bán bánh tằm bì đã dọn hàng. Trong túi áo khoác, hai nửa con cá gỗ cọ vào nhau mỗi bước tôi đi, kêu lách cách rất khẽ.
Kiều nói dối công an, nói thật với chồng. Na đã nói gì với Kiều trong ba phút mười hai giây ấy, tôi chưa biết.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám