Chương 1: Con cá chép chưa có mắt
– Lồng đèn không có mắt thì ai mua, con?
Ba tui hỏi câu đó lúc mười giờ đêm mười bốn tháng Tám âm lịch năm 2010, tay cầm con cá chép giấy kiếng đỏ của tui lên ngang mặt, xoay qua xoay lại dưới bóng đèn tuýp. Cái khung tre tui vót ba buổi chiều, uốn cong cái đuôi bằng cách hơ trên ngọn đèn cầy cho tre mềm, cột kẽm từng khớp. Giấy kiếng đỏ tui dán bằng hồ bột má nấu, kéo căng tới mức gõ ngón tay vô nghe bùng bùng như mặt trống. Vảy cá tui cắt giấy kiếng vàng thành hình bán nguyệt, dán chồng lên nhau từ đầu tới đuôi, hai trăm mười bốn cái vảy. Cái gì cũng xong. Chỉ thiếu hai con mắt.
– Con hết giờ, – tui nói. – Sơn trắng hết rồi ba.
– Hết sơn trắng thì lấy giấy trắng cắt tròn dán vô.
– Con muốn vẽ. Mắt dán nhìn như mắt búp bê.
Ba tui để con cá xuống cái bàn gỗ dài chất đầy khung tre. Ba tên Tám, cả xóm kêu ông Tám Lồng Đèn, làm nghề từ năm mười hai tuổi, giờ năm mươi mốt. Ba có hai ngón tay trái cong queo vì bị dao vót tre cắt đứt gân hồi trẻ, mà vẫn vót tre nhanh hơn bất cứ ai trong xóm Phú Bình. Ba nhìn tui qua cặp kính lão gọng nhựa đen gãy một bên càng, cột lại bằng dây thun.
– Mai rằm rồi. Không có mắt thì để đó, sang năm làm lại. Đồ của nhà mình bán ra là phải đủ. Thiếu một con mắt cũng là thiếu.
Rồi ba lật cái khung lại, chấm cây bút lông vô chén mực tàu, ký lên thanh tre ở bụng con cá hai chữ nhỏ xíu: T8. Cái lồng đèn nào ra khỏi nhà tui cũng có hai chữ đó, giấu ở bên trong, phải đốt đèn cầy lên mới thấy bóng nó in lên giấy. Ba nói đó là chữ ký của nhà mình, ba làm thì ba chịu.
– Ký chi vậy ba, ba nói không bán mà.
– Không bán thì vẫn là đồ nhà mình làm.
Tui mười ba tuổi. Năm đó là năm đầu tiên ba cho tui làm trọn một cái lồng đèn từ khung tới giấy, không ai sửa. Tui chọn con cá chép vì nó khó nhất, cái đuôi phải uốn ba khúc mới ra dáng quẫy. Tui đã tưởng tượng cảnh nó được treo ở sạp nhà mình ngoài đầu hẻm, ai đi ngang cũng chỉ trỏ. Giờ nó nằm trên bàn, đỏ rực, hai trăm mười bốn cái vảy, mà mù.
Xóm tui hồi đó, mùa này, không ai ngủ trước nửa đêm. Hẻm nhỏ tới mức hai chiếc xe đạp tránh nhau phải nghiêng ghi đông, mà nhà nào cũng bày khung tre ra tận cửa. Khung ông sao, khung con thỏ, khung máy bay, khung tàu thủy có ống khói. Đèn tuýp trắng hắt xuống những tấm giấy kiếng xanh, đỏ, vàng, tím phơi trên dây, nhìn từ đầu hẻm vô như ai đổ một hộp kẹo ra giữa đường. Mùi hồ bột chua chua, mùi sơn dầu, mùi khói đèn cầy thử đèn, mùi bánh nướng từ lò bà Sáu cuối hẻm bay lên, trộn chung lại thành một thứ mùi mà tới giờ, mười mấy năm sau, chỉ cần ngửi được một phần trong đó là tui nhớ hết.
Má tui ngồi trước cửa dán giấy cho khung ông sao, tay thoăn thoắt, miệng nói với ba mà mắt không ngước lên:
– Ông nói con nhỏ vậy chi. Nó làm được vậy là giỏi rồi.
– Giỏi thì phải giỏi cho trọn.
– Trọn trọn cái gì. Ông làm ba chục năm còn có cái méo.
– Méo thì tui sửa. Không bán đồ thiếu.
Hai ông bà cãi nhau kiểu đó mỗi mùa Trung thu, như hai người hát đối. Tui ôm con cá ra ngồi ở bậc cửa, kế bên má, nhìn ra hẻm.
Thằng Nị đi ngang lúc đó.
Nó đẩy một chiếc xe đạp thồ có cái thùng gỗ cột phía sau, trong thùng là mấy chồng hộp giấy đỏ in hình mặt trăng. Bánh nướng của bà nội nó. Bà nội nó là bà Sáu, người Hoa, làm bánh trong cái lò nhỏ cuối hẻm từ hồi ba tui còn nhỏ, cả xóm kêu bà Sáu Lò. Mùa này bà nướng bánh suốt ngày đêm, thằng Nị chạy đi giao cho từng nhà đặt. Nó mười bốn tuổi, lớn hơn tui một tuổi, gầy nhom, tóc húi cua, cái áo thun ba lỗ dính bột mì lấm tấm từ cổ tới bụng. Cả xóm kêu nó là thằng Nị, tên thật của nó tui không biết, mà cũng không ai biết.
Nó dừng xe trước nhà tui, đưa cho má hai hộp bánh.
– Hai cái thập cẩm, hai cái đậu xanh trứng muối, bà nội con gửi. Bà nói cô Út trả sau cũng được.
– Cám ơn con. Mai cô qua trả.
Thằng Nị gật đầu. Nó quay đi, rồi khựng lại. Nó nhìn con cá trên tay tui.
Nó nhìn lâu lắm. Tui thấy ánh đèn tuýp chiếu qua lớp giấy đỏ, in một vệt hồng lên mặt nó. Nó đi vòng qua bên kia con cá, nhìn cái đuôi uốn ba khúc, nhìn mấy cái vảy vàng. Rồi nó cúi xuống nhìn ngay cái đầu cá, nơi chỗ hai con mắt chỉ có hai khoảng giấy đỏ trơn.
– Con cá này chưa có mắt.
– Tui biết.
– Bà, sao không vẽ?
– Hết sơn trắng. Mà ba tui nói thiếu mắt thì không bán.
Nó đứng thẳng lên. Nó móc trong túi quần ra một xấp tiền lẻ nhàu nhĩ, mấy tờ năm ngàn, mười ngàn, hai mươi ngàn, có tờ dính bột. Nó đếm, cẩn thận, mấp máy môi.
– Một trăm mười hai ngàn. – Nó ngẩng lên, nhìn ba tui qua cửa. – Chú Tám ơi. Con cá này con mua được không chú?
Ba tui ngừng vót tre. Cả xóm đều biết thằng Nị dành dụm tiền giao bánh cả mùa Trung thu để mua cho mình một món gì đó. Năm ngoái nó mua một cái đèn pin. Năm kia nó mua một cuốn truyện tranh. Má nó mất sớm, ba nó đi làm xa, nó ở với bà nội, cả năm chỉ có mùa này là có tiền riêng.
– Con cá đó không có mắt, Nị.
– Dạ con thấy.
– Không có mắt thì không phải đồ bán. Mai chú làm cho con con khác, đủ mắt.
– Con hổng muốn con khác. – Thằng Nị nói, giọng nhỏ mà không lùi. – Con muốn con này.
Ba tui nhìn nó. Ba nhìn tui. Ba nhìn con cá. Ba đặt con dao vót tre xuống bàn.
– Vì sao?
Thằng Nị gãi đầu. Bột mì trên tóc nó rơi lả tả xuống vai.
– Vì... – Nó liếc qua tui một cái thiệt nhanh, rồi nhìn xuống chân. – Con cá này nhìn như nó chưa muốn thấy cái gì hết. Để dành con mắt. Chừng nào tụi con lớn rồi vẽ.
Má tui bật cười. Tui thì đỏ mặt tới mang tai, mà tui không hiểu tại sao tui đỏ mặt. Tụi con là tụi nào? Nó với ai?
Ba tui không cười. Ba đứng dậy, đi tới, lấy con cá khỏi tay tui. Ba gắn vô bụng con cá một cây đèn cầy nhỏ, cắm cái que tre làm cán, rồi đưa cho thằng Nị.
– Ba mươi ngàn thôi. Giá vốn.
– Con trả đủ một trăm mười hai ngàn.
– Ba mươi. – Ba tui gằn giọng. – Đồ thiếu thì bán giá thiếu. Đó là luật nhà chú.
Thằng Nị đưa ba chục ngàn. Ba tui cầm tiền, đưa lại cho tui.
– Tiền của con. Con làm thì con lấy.
Ba chục ngàn đầu tiên tui kiếm được trong đời. Tui cầm mấy tờ tiền dính bột mì, nhìn thằng Nị cầm con cá chép mù của tui đi vô hẻm, chiếc xe đạp thồ lọc cọc, cái thùng gỗ phía sau lắc lư. Đi được một khúc, nó quay lại, giơ con cá lên cao như giơ cúp.
– Vỹ ơi! Nhớ nghen! Chừng nào lớn!
– Nhớ cái gì?
– Con mắt!
Rồi nó quẹo vô cuối hẻm, nơi khói lò bánh bà Sáu đang bốc lên trắng xóa dưới ánh đèn đường.
Đêm rằm năm đó, xóm tui có rước đèn. Con nít trong hẻm sắp hàng, đứa cầm ông sao, đứa cầm con thỏ, đứa cầm tàu thủy, đi một vòng từ đầu hẻm tới cuối hẻm rồi ra con đường lớn, vừa đi vừa hát bài Rước đèn tháng Tám. Tui đi gần cuối hàng, tay cầm một cái ông sao ba làm. Thằng Nị đi sau tui, tay cầm con cá chép không có mắt, cây đèn cầy bên trong đốt sáng làm cả con cá rực lên như cục than hồng.
Đi tới khúc quẹo trước lò bánh, tui nghe tụi con nít đi sau cười rộ.
– Ê, con cá đui!
– Cá mù, cá mù!
– Nị ơi, cá mày đâm đầu vô cột điện bây giờ!
Tui quay lại. Thằng Nị không cãi. Nó giơ con cá lên cao hơn, đi thẳng, mặt tỉnh queo. Khi đi ngang tui, nó nói nhỏ, chỉ đủ tui nghe:
– Nó không đui. Nó đang nhắm mắt.
Tui không biết trả lời sao. Tui chỉ thấy cái bóng của hai chữ T8 in lên lớp giấy đỏ ở bụng con cá, run run theo ngọn lửa đèn cầy.
Rước xong, tụi con nít kéo nhau về trước lò bánh bà Sáu như mọi năm. Bà Sáu nhỏ thó, lưng còng, tóc búi củ hành cài cây trâm nhựa, mặc bộ đồ bộ màu xám tro dính bột. Bà bưng ra một cái mâm nhôm đầy bánh vỡ, bánh lệch khuôn, bánh cháy cạnh, phát cho mỗi đứa một miếng. Tới lượt thằng Nị, bà nhìn con cá chép trên tay nó, nheo mắt.
– Cá gì không có mắt?
– Cá của con Vỹ làm đó nội.
Bà Sáu quay qua nhìn tui. Bà nói tiếng Việt lơ lớ, chữ nào cũng như được nhúng qua nước đường.
– Cá không có mắt, đi đường bằng cái bụng. – Bà vỗ vỗ lên bụng con cá, chỗ hai chữ T8 in bóng. – Bụng nó sáng là được rồi. Mắt để sau.
Rồi bà dúi vô tay tui một miếng bánh nướng nhân thập cẩm còn ấm, lớn gấp đôi miếng của mấy đứa khác. Tui cắn một miếng, mỡ đường với hạt dưa béo ngậy, vỏ bánh mềm thơm mùi nước đường thắng. Thằng Nị đứng kế bên, cầm con cá, ăn miếng bánh cháy cạnh của nó, không nói gì, mà cứ cười hoài.
Khuya đó, lúc dọn sạp, tui nghe ba với má nói chuyện trong nhà, giọng nhỏ, tưởng tui ngủ rồi.
– Thằng nhỏ đó, – má nói, – nó thương con Vỹ.
– Con nít mà bà.
– Con nít cũng biết thương. Ông hồi mười bốn tuổi không thương ai hả?
Ba tui không trả lời. Một lúc sau, ba nói một câu khác, giọng trầm xuống:
– Hồi chiều ông chủ đất qua lò bà Sáu. Nói hết hợp đồng thì lấy lại mặt bằng, xây nhà cho thuê. Còn bốn năm.
– Rồi bà Sáu với thằng Nị đi đâu?
Ba tui im. Ngoài hẻm, gió thổi qua mấy tấm giấy kiếng phơi chưa kịp cất, nghe sột soạt như ai đang lật sách. Tui nằm trên gác, mắt mở trao tráo trong bóng tối, đếm. Bốn năm. Tui mười ba. Bốn năm nữa tui mười bảy. Mười bảy thì đã lớn chưa? Lớn tới đó thì đã đủ để vẽ một con mắt chưa?
— Hết chương 1 —
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe