AI Truyện
Con cá chép chưa vẽ mắt ở xóm lồng đèn

💞 Ngôn tình

Anh Hào gửi, năm nào cũng vậy

Con cá chép chưa vẽ mắt ở xóm lồng đèn · Chương 6/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Anh Hào gửi, năm nào cũng vậy

– Anh Hào, bánh rớt kìa anh.

Cô thợ trẻ nhất cúi xuống lượm cái bánh vỡ đôi trên nền gạch. Anh không nhìn cái bánh. Anh nhìn tui. Tui nhìn anh. Hai đứa đứng cách nhau chừng sáu bước, giữa là cái bàn ép khuôn, cái khuôn gỗ thị treo trên vách, và con cá chép mù.

Anh cao hơn hồi mười tám tuổi một chút, mà rộng ra nhiều. Vai dày, cánh tay có mấy vết bỏng cũ mờ mờ như vệt sơn. Tóc vẫn húi cua. Mặt sạm, có hai đường nhăn ở khóe mắt, cái kiểu nhăn của người hay nheo mắt nhìn lửa. Mà cái cười, khi anh cười được, sau mấy giây đứng như trời trồng, vẫn lệch về một bên.

– Lâm Gia Hào, – anh nói, như đọc tên mình trên một tờ giấy khai sinh. – Tên thật của tui. Nội đặt. Cả xóm kêu Nị, nên chắc bà hổng biết.

– Hổng biết, – tui nói. – Tám năm tui kiếm một thằng tên Nị.

Anh lau tay vô cái tạp dề, lau lâu hơn cần thiết.

Trên cái cầu thang gỗ hẹp ở góc lò có tiếng gậy gõ xuống từng bậc. Cộc. Cộc. Một bà cụ nhỏ xíu, lưng còng gập gần chín mươi độ, tóc trắng như bông gòn búi củ hành cài cây trâm nhựa, chống cây gậy tre bước xuống. Bà mặc bộ đồ bộ màu xám tro. Cái màu xám tro đó, tui nghĩ, chắc bà đã mua cả chục bộ giống nhau từ bốn chục năm trước.

– Hào à, ai đó? – Bà nói tiếng Việt lơ lớ, chữ nào cũng như nhúng qua nước đường.

– Nội ơi, nội xuống chi. Con Vỹ. Con Vỹ nhà chú Tám lồng đèn đó nội.

Bà Sáu đứng ở bậc thang cuối, nheo mắt nhìn tui. Bà chín mươi bốn tuổi. Mắt bà đục như nước vo gạo. Bà nhìn tui rất lâu, rồi giơ một ngón tay khô như que củi chỉ lên vách, chỉ con cá chép mù.

– Con cá đó của con.

– Dạ con, bà.

– Chưa có mắt. – Bà lắc đầu, như trách mà như cười. – Mười mấy năm chưa có mắt. Thằng này nó treo đi treo lại ba cái phòng trọ, một cái lò. Dọn nhà cái gì nó cũng bỏ, cái đó nó không bỏ.

Anh đỏ mặt quay đi, làm bộ coi lửa.

Bà Sáu bước xuống bậc cuối, chống gậy đi tới, nắm lấy cổ tay tui. Bàn tay bà lạnh và nhẹ như một tờ giấy kiếng.

– Hẻm còn không con? Xóm còn làm lồng đèn không?

– Dạ còn bảy nhà, bà. Chỗ lò của bà giờ là nhà trọ.

– Ờ. – Bà gật đầu, như đã biết từ lâu. – Bà muốn về coi một lần. Thằng Hào nó nói để năm sau. Năm sau hoài.

Rồi bà buông tay tui, quay lưng chống gậy đi lên cầu thang, chậm rãi, từng bậc, cộc, cộc.

– Bà lên đây chi?

Tui nói. Tui nói như đang thuyết trình với khách hàng, vì đó là cách duy nhất tui giữ được giọng mình không run. Trung tâm thương mại ở Thủ Đức. Sảnh năm tầng. Một ngàn cái lồng đèn của xóm Phú Bình. Một cái lò bánh thủ công ngay giữa sảnh, khói bay lên tầng năm. Tui cần một lò than thật, khuôn gỗ thật, thợ thật. Chín cái lò ở Sài Gòn từ chối hết.

Anh nghe hết, không chen câu nào. Khi tui nói xong, anh đi tới cái lò, mở cửa, nhìn vô lửa.

– Lò than lên trung tâm thương mại, phòng cháy người ta không cho đâu.

– Có cách. Lò đặt trên bệ cách nhiệt, chụp hút khói nối ra ngoài, có người bên phòng cháy tới kiểm. Tui hỏi rồi. Tốn tiền, mà làm được.

– Tốn tiền ai trả?

– Bên tui.

Anh đóng cửa lò. Anh đứng im một lúc, lưng quay về phía tui.

– Năm nay lò tui khó, – anh nói. – Tháng Năm mưa lớn, sập một mảng vách lò, xây lại hết ba trăm triệu, vay. Tui cần đơn. Mà tui sợ bà biết rồi bà thương hại.

– Tui không biết gì hết. Tui tới vì cô bạn tui nói lò này có mùi giống lò bà Sáu.

Anh quay lại.

Đúng lúc đó, cửa lò bánh bị đẩy ra cái rầm. Một thằng nhỏ chừng tám tuổi, áo thun có hình siêu nhân đã bạc màu, dép tổ ong, chạy ào vô, thở hồng hộc.

– Chú Hào! Chú Hào! Năm nay có lồng đèn cá không chú? Thằng Tí nói năm nay chú không đem tới, chú hết tiền rồi! Có phải không chú?

Lò bánh im phắc. Hai cô thợ cúi gằm xuống bàn ép khuôn. Anh Hào, thằng Nị, đứng giữa gian nhà hẹp, mặt đỏ lên, đỏ hơn cả lúc đứng trước cửa lò.

– Về đi Bin. Chú bận khách.

– Mà có không chú?

– Để chú tính.

Thằng nhỏ nhìn anh, nhìn tui, rồi chạy ra. Ngoài hẻm vọng vô tiếng nó la với ai đó: "Chú nói để chú tính! Là chưa chắc đó!"

Tui đứng giữa lò bánh. Tui nghe tim mình đập từng cái một, rõ như tiếng ba tui gõ khuôn bánh cốc cốc cốc lên mặt bàn hồi mười lăm tuổi.

– Lồng đèn cá, – tui nói.

Anh không trả lời.

– Ba trăm cái. Một trăm năm chục cá chép, một trăm năm chục ông sao. Ký tên đủ. Chuyển khoản trước một nửa. Nội dung ghi "Dat long den T8". – Tui nghe giọng mình như của người khác. – Tám năm. Tám mùa. Từ năm 2015.

– Vỹ...

– Anh Hào gửi. Năm nào cũng vậy. Ảnh làm ở lò bánh trong khu công nghiệp. Hồi trước ảnh ở phòng số mười bốn. – Tui cười, mà cái cười không ra hơi. – Năm 2018 tui đứng ở sân dãy trọ đó. Cúp điện mười phút. Có điện lại thì cái bàn đầu dãy trống trơn.

Anh nhắm mắt lại một giây. Rồi anh kéo cái ghế đẩu dưới gầm bàn ra, ngồi xuống, như người vừa vác một bao bột năm chục ký lên lầu.

– Năm 2018 tui thấy bà, – anh nói. – Bà mặc áo câu lạc bộ màu xanh lá. Bà đứng ở góc sân, nhìn lồng đèn. Tui đứng ở đầu dãy, tui thấy bà nhìn cái bóng chữ T8. Tui biết bà biết. Rồi tui đi ra cầu dao.

– Anh cúp điện?

– Tui cúp điện.

Tui không biết nên cười hay nên tát anh một cái. Tui ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện.

Anh kể. Anh kể như cách người ta kể chuyện nướng một mẻ bánh: từng bước, không thêm thắt.

Năm 2015, anh nhận được tin nhắn của tui, rằng ba tui viêm phổi, má tui bắt nghỉ nghề. Anh làm công nhân năm thứ hai, ở phòng trọ số mười bốn với ba và nội. Phòng kế bên là anh Tư, người miền Tây, tổ trưởng công đoàn của phân xưởng. Anh năn nỉ anh Tư đề xuất công đoàn mua lồng đèn Trung thu cho con công nhân. Công đoàn duyệt, mà ngân sách chỉ đủ mua lồng đèn nhựa. Anh bù phần chênh. Năm đầu anh bù một nửa, bằng tiền tăng ca ba tháng. Anh Tư gọi điện giùm, vì anh sợ ba tui nghe ra giọng.

– Còn chữ T8?

– Tui nói anh Tư nói vậy. Tui muốn chú ký. Chú ký thì chú biết đồ của chú đi đâu đó, mà không cần biết là ai.

Năm 2017, công đoàn cắt khoản đó. Anh bù hết. Năm 2019, anh nghỉ xưởng, mở lò bánh bằng tiền dành dụm năm năm và tiền nội bán đôi bông tai vàng cuối cùng. Anh Tư về quê, anh tự chuyển khoản, nhờ một người bạn khác gọi. Lồng đèn vẫn đem tới dãy trọ cũ, vì tụi nhỏ ở đó đã quen. Năm nay lò sập vách. Đầu tháng Bảy anh ngồi nhìn tài khoản, không đủ.

– Tui định gọi cho chú xin lỗi, – anh nói. – Mà tui không biết xin lỗi bằng tên gì.

Tui ngồi im. Tui nghĩ tới ba tui, ngồi cạnh cái điện thoại bàn hai tuần. Tui nghĩ tới năm 2015, khi má tui nói mùa cuối, rồi tiền vô tài khoản, rồi má không nhắc chuyện nghỉ nữa. Tám năm. Tám mùa Trung thu ba tui sống được, ba tui tự hào mỗi lần kể với hàng xóm có công ty ở Bình Dương đặt đồ nhà mình vì đồ nhà mình tốt. Tám năm đó, có một thằng đứng máy mười hai tiếng một ngày để trả tiền cho cái tự hào đó.

Có cái gì đó trong ngực tui nóng lên. Không phải cảm động. Giận.

– Sao anh không nói? – tui hỏi. – Sao anh không gọi tui một lần? Tám năm. Anh có số tui. Tui không đổi số.

Anh nhìn xuống hai bàn tay mình, mấy vết bỏng cũ.

– Bà học đại học. Bà vẽ đẹp. Bà đăng hình trên trang cá nhân, đi triển lãm, đi chơi với bạn. – Anh nói chậm. – Tui đứng máy đóng gói bao nhựa. Tui coi hình bà trong giờ nghỉ, ngồi dưới gầm cầu thang xưởng. Tui nghĩ, chừng nào tui có cái lò, tui gọi. Có cái lò rồi thì lò lại nợ. Tui nghĩ, chừng nào trả hết nợ.

– Còn tiền lồng đèn thì sao? Sao anh trả được tiền lồng đèn mà không trả được một cuộc điện thoại?

– Lồng đèn thì tui trả được bằng tiền. – Anh ngẩng lên. – Điện thoại thì phải trả bằng cái khác.

Tui đứng dậy. Tui không biết mình đang làm gì. Tui chỉ biết nếu tui ngồi thêm một phút nữa, tui sẽ khóc giữa lò bánh của người ta, trước mặt hai cô thợ đang làm bộ ép khuôn mà tai thì vểnh lên.

– Ba tui, – tui nói, – tưởng người ta mua vì đồ ba tốt. Ba tui kể với cả xóm. Chín năm.

– Đồ chú tốt thiệt, – anh nói. Giọng anh lần đầu cứng lại. – Tụi nhỏ ở dãy trọ giữ lồng đèn cá cả năm. Có đứa treo đầu giường tới Trung thu năm sau còn chưa chịu bỏ. Bà nghĩ tui bố thí hả?

– Tui không biết anh làm gì. Tui chỉ biết ba tui không biết.

Tui đi ra cửa. Tới đầu hẻm, tui quay lại. Anh vẫn ngồi trên cái ghế đẩu, sau lưng là cái khuôn gỗ thị và con cá chép mù.

– Thứ Hai tui gửi hợp đồng, – tui nói. – Dự án cần lò của anh. Đó là chuyện công việc.

Tui chạy xe về Sài Gòn trong mưa. Hai tiếng. Áo mưa rách một bên vai, nước thấm lạnh. Tui không dừng lại trú. Về tới đầu hẻm nhà mình đã chín giờ tối. Ba tui ngồi ở bàn gỗ dài, không vót tre. Trước mặt ba là cái điện thoại bàn.

– Hồi chiều có người gọi, – ba nói khi tui chưa kịp cởi áo mưa. – Giọng miền Tây. Lâu lắm mới nghe lại. Nói năm nay xin lỗi chú, không đặt được, bên con có chuyện. Nói chú giữ sức khỏe.

Ba nhìn tui qua cặp kính gọng nhựa cột dây thun. Ba nhìn mặt tui lâu, như nhìn một cái khung tre coi có cong chỗ nào.

– Con đi đâu về mà mặt vậy? – Ba hỏi. Rồi ba hỏi thêm một câu, giọng thấp xuống, câu mà ba chắc đã muốn hỏi từ lâu lắm: – Con biết người đó, phải không?

— Hết chương 6 —

Mục lục Con cá chép chưa vẽ mắt ở xóm lồng đèn

  1. 1Con cá chép chưa có mắt10 phút đọc
  2. 2Khuôn gỗ con cá ở lò bà Sáu10 phút đọc
  3. 3Hũ sơn trắng ba ngàn đồng9 phút đọc
  4. 4Ba trăm cái lồng đèn đặt trước9 phút đọc
  5. 5Còn ba mươi ngày10 phút đọc
  6. 6Anh Hào gửi, năm nào cũng vậy10 phút đọc
  7. 7Tám tờ biên nhận9 phút đọc
  8. 8Đêm mưa dột ở xóm Phú Bình10 phút đọc
  9. 9Mười lăm phút làm một cái ông sao10 phút đọc
  10. 10Mở mắt9 phút đọc

Về truyện này

Con cá chép chưa vẽ mắt ở xóm lồng đèn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →