Chương 8: Đêm mưa dột ở xóm Phú Bình
Mưa xuống lúc năm giờ bốn mươi chiều, đúng lúc tui chạy xe tới đầu đường lớn.
Không phải mưa. Là trút. Nước từ trên trời đổ xuống như ai lật ngược cả cái thau, chưa tới mười phút mặt đường đã ngập tới mắt cá. Tui bỏ xe máy ở đầu hẻm, chạy bộ vô, áo mưa không kịp mặc. Hẻm nhà tui biến thành một con mương nhỏ, nước chảy xiết về phía cống, cuốn theo dép, bịch ni lông, một cái khung ông sao nhà ai bị gió giật rớt.
Nhà tui sáng đèn. Ba, má, cô Năm, hai chị em cô Thủy đang chạy qua chạy lại trong nhà, khiêng lồng đèn từ chỗ này qua chỗ kia. Trên mái tôn, chỗ góc nhà gần bếp, một dòng nước chảy xuống thành sợi, rơi ngay giữa đống lồng đèn chất trên tấm bạt. Ba tui đứng trên cái ghế đẩu, tay giơ một cái thau nhôm hứng, nước tràn qua thành thau.
– Vỹ! Khiêng đống cá chép vô buồng trong!
Tui khiêng. Lồng đèn giấy kiếng dính nước là hỏng. Giấy kiếng không thấm nước, mà hồ dán thì tan, giấy bong ra khỏi khung, nhăn nhúm như da người ngâm nước lâu. Mấy cái khung tre ướt sũng thì cong vênh, phơi khô cũng không còn đúng dáng. Tui ôm từng chồng cá chép vảy thủng chạy vô buồng, chân trượt trên nền gạch ướt, ngã một lần, cái chồng lồng đèn đè lên ngực.
Sáu giờ rưỡi, mưa ngớt. Cả nhà đứng giữa đống lồng đèn, không ai nói gì.
Ba tui đếm. Ba đếm hai lần. Sáu trăm mười hai cái đã làm xong. Ba trăm bốn mươi cái còn dùng được. Hai trăm bảy mươi hai cái hư, hoặc hư hẳn, hoặc phải gỡ giấy dán lại từ đầu.
– Mười bốn ngày, – cô Năm nói. – Phải làm lại gần ba trăm cái, cộng với gần bốn trăm cái chưa làm. Bảy nhà mình, mỗi đêm ba mươi lăm cái. Không đủ.
Không ai cãi. Ba tui ngồi xuống cái ghế đẩu, cởi cặp kính ra lau. Hai ngón tay cong queo run run.
Tui đi ra đầu hẻm, đứng dưới mái hiên nhà ông Chín Mập, móc điện thoại ra. Tui không biết gọi cho ai. Anh Duy Khương sẽ nói "vậy thì đổi". Chị Vân Kiều sẽ nói "chị đã nói rồi". Tui nhìn cái màn hình một lúc lâu. Rồi tui bấm một số mà tui mới lưu được ba tuần.
Anh bắt máy sau một hồi chuông.
– Vỹ hả?
– Mưa. – Tui nói, rồi không nói được gì thêm.
Anh không hỏi gì. Tui nghe tiếng anh nói với ai đó bên kia, giọng nhanh, rồi tiếng cửa sắt kéo xuống.
– Hai tiếng, – anh nói. – Nấu hồ sẵn đi.
Chín giờ tối, một chiếc xe tải nhỏ màu xanh dương đậu ở đầu hẻm. Thùng xe phủ bạt. Anh nhảy xuống từ ghế lái. Từ ghế phụ, hai cô thợ của lò bánh bước xuống, mỗi người ôm một cái thau nhôm. Từ thùng xe phía sau, ba thằng thanh niên chừng hai mươi tuổi nhảy xuống, mặc áo công nhân, đứa nào cũng ngáp.
– Ở dãy trọ, – anh nói với tui. – Tụi nó đi ca chiều về. Tụi nó nói con tụi nó cầm lồng đèn của chú Tám tám năm rồi, giờ tới lượt tụi nó cầm hồ.
Anh khiêng từ thùng xe xuống mấy cuộn bạt nhựa lớn, mấy cây sào, một cuộn dây kẽm.
– Lợp tạm mái trước. Rồi làm.
Ba tui đứng ở cửa nhà. Ba nhìn anh, cái nhìn qua cặp kính gọng nhựa, lâu như nhìn một thanh tre coi có thẳng không. Anh đặt cuộn bạt xuống, đứng thẳng lên, rồi cúi đầu. Cúi sâu, như người Hoa cúi trước bàn thờ, như cái đêm năm 2014 anh cầm cái cá chép vảy thủng ba cho.
– Chú Tám. Con là thằng Nị.
Ba tui không nói gì. Ba quay vô nhà. Tui tưởng ba đuổi. Rồi ba đi ra, tay cầm cây dao vót tre và một bó tre thô, đặt lên bàn gỗ dài, kéo cái ghế đẩu ra, chỉ vô.
– Ngồi. Vót tre được không?
– Hồi nhỏ chú có dạy con.
– Dạy hồi nào?
– Mùa Trung thu năm con mười một tuổi. Con đi giao bánh, đứng coi chú vót. Chú cho con vót thử một thanh. Con vót gãy. Chú nói vót tre là vót theo thớ, đừng đè.
Ba tui nhìn anh. Tui biết ba không nhớ. Ba đã cho cả trăm đứa con nít trong xóm vót thử một thanh tre. Mà ba gật đầu.
– Vót theo thớ. Đừng đè.
Đêm đó cả xóm thức trắng. Ba thằng thanh niên ở dãy trọ với anh leo lên mái, căng bạt, buộc kẽm, che kín chỗ dột trong bốn mươi phút. Hai cô thợ lò bánh ngồi với má, với hai chị em cô Thủy, gỡ giấy hư, dán giấy mới. Tay hai cô quen nhồi bột, ép khuôn, mà học dán giấy kiếng nhanh tới mức cô Thủy phải khen. Bảy nhà trong xóm, nghe tin, kéo tới thêm. Ông Chín Mập đem qua cái quạt công nghiệp, thổi khô mấy cái khung tre ướt. Nhà nào cũng đem theo một nồi hồ.
Anh ngồi cạnh ba tui ở bàn gỗ dài, vót tre.
Tui ngồi dán giấy ở bậc cửa, nhìn hai người qua vai. Họ không nói chuyện. Ba vót một thanh, đặt xuống. Anh vót một thanh, đặt xuống. Thỉnh thoảng ba cầm thanh tre anh vót lên, ngó dọc thân tre dưới bóng đèn tuýp, rồi đặt lại, không nói gì. Có lúc ba đưa tay chỉnh góc dao trong tay anh, giống y như anh chỉnh tay tui trên cái khuôn gỗ thị.
Ba giờ sáng, mọi người đã ngủ gục khắp nơi. Cô Năm ngủ trên cái võng ngoài hiên. Ba thằng thanh niên nằm la liệt trên tấm bạt. Hai cô thợ ngủ ngồi dựa vô nhau. Tui ngồi ở bậc cửa, mắt díp lại, nghe thấy giọng ba.
– Sao mày làm vậy?
Tui mở mắt ra, không nhúc nhích. Ba với anh vẫn ngồi ở bàn gỗ dài, dưới bóng đèn tuýp, giữa một đống nan tre.
– Làm gì chú?
– Mua lồng đèn của tao. Tám năm.
Anh đặt con dao xuống.
– Năm con mười bốn tuổi, – anh nói, – con mua con cá chép không có mắt của con Vỹ. Chú bán cho con ba chục ngàn. Chú nói đồ thiếu thì bán giá thiếu. Đó là luật nhà chú.
– Ờ.
– Đồ của chú tám năm nay đâu có thiếu. Con mua đồ đủ thì con trả giá đủ. – Anh nhìn xuống tay mình. – Con không bố thí, chú. Con chỉ theo luật nhà chú.
Ba tui im lặng lâu lắm. Tui nghe tiếng mưa đêm lất phất trên tấm bạt mới căng, tiếng thở đều đều của mấy người đang ngủ.
– Ba mươi ngàn đó, – ba nói, – tao đưa cho con Vỹ. Nói nó làm thì nó lấy. Nó cầm ba chục ngàn dính bột mì của mày, nó không xài. Nó kẹp vô cuốn tập vẽ. Tới giờ còn.
Tui ngồi ở bậc cửa, mặt nóng ran. Tui không biết ba biết chuyện đó.
Anh cũng không nói gì. Hai người ngồi im, rồi ba cầm thanh tre lên, vót tiếp. Anh cũng cầm lên, vót tiếp. Soạt. Soạt.
Sáu ngày sau đó, xóm Phú Bình làm lồng đèn như chưa từng làm từ năm 2012. Ban ngày bảy nhà làm. Tối, anh chạy xe tải từ Bình Dương xuống, chở theo người ở dãy trọ tan ca chiều, có tối hai người, có tối năm người. Họ làm tới nửa đêm rồi chạy về, sáng ra đi làm. Anh nói đó là tụi nó tự đòi đi, anh không năn nỉ ai. Ba tui ghi tên từng người vào một cuốn sổ nhỏ, nói để trả công. Không ai chịu lấy. Ba vẫn ghi.
Những đêm đó, sau khi mọi người về, tui ngồi ở bàn gỗ dài với cái máy tính, làm phương án cho buổi họp. Tui làm đi làm lại bảng so sánh chi phí. Lồng đèn giấy đắt gấp ba. Con số đó không đổi được. Tui thử đủ cách, cắt bớt số lượng, đổi chỗ treo, giảm cỡ, vẫn đắt gấp hai.
Một đêm, anh ngồi xuống cạnh tui, cầm ly trà đá, nhìn màn hình.
– Bà tính sai một chỗ.
– Chỗ nào?
– Bà tính cái lồng đèn là món đồ treo. – Anh chỉ vô cột "đèn nhựa". – Cái này treo ba chục ngày rồi bỏ. Còn đồ của chú, người ta làm ra được. Bà nhớ hồi nhỏ, rằm nào con nít cả xóm cũng xúm lại coi chú vót tre không? Tụi nó coi còn mê hơn cầm.
Tui nhìn anh. Anh nói tiếp, chậm, như đang canh một mẻ bánh:
– Ở lò tui, người ta đứng ngoài cửa coi ép khuôn cả buổi. Có người trả tiền để vô ép thử một cái. Bà bán cái lồng đèn thì bà lỗ. Bà bán cái giờ làm lồng đèn thì chưa chắc.
Tui ngồi im một lúc lâu. Rồi tui mở một trang trắng, bắt đầu làm lại từ đầu.
Còn tám ngày, tối Chủ nhật, anh chở bà Sáu xuống.
Bà ngồi ở ghế phụ chiếc xe tải xanh, đội cái nón vải, chống cây gậy tre. Anh bế bà xuống xe như bế một bao bột nhẹ. Bà đứng ở đầu hẻm, nhìn vô. Bà nhìn những tấm giấy kiếng xanh đỏ phơi trên dây, những khung tre chất trước cửa nhà, đèn tuýp trắng hắt xuống con hẻm hẹp như hộp kẹo đổ ra giữa đường.
Bà đi vô hẻm, chậm, cộc, cộc. Ai thấy cũng đứng dậy chào. Bà gật đầu với từng người. Bà đi tới cuối hẻm, đứng trước cái nhà trọ bốn tầng sơn xanh dương, chỗ cái lò cũ. Bà đứng đó lâu lắm. Một cô gái thuê trọ đi ra ban công phơi đồ, nhìn xuống bà cụ lưng còng đứng giữa hẻm, rồi đi vô.
– Hết rồi, – bà nói. Không buồn. Như nói chuyện mẻ bánh đã hết.
Rồi bà quay lại, đi về phía nhà tui. Ba tui đứng ở cửa. Hai người già nhìn nhau. Bà Sáu chín mươi bốn, ba tui sáu mươi bốn. Năm mươi năm trước, bà là người dúi cho thằng Tám mười bốn tuổi miếng bánh vỡ mỗi mùa rước đèn.
– Thằng Tám, – bà nói. – Già rồi hả.
– Dạ con già rồi bà Sáu.
Bà đưa tay vỗ vỗ lên cánh tay ba tui, như vỗ lên bụng một cái lồng đèn coi đèn cầy còn cháy không. Rồi bà ngồi xuống cái ghế nhựa má tui kéo ra, nhìn cả xóm làm lồng đèn tới khuya, không nói thêm câu nào, mặt mãn nguyện như người vừa nếm được miếng bánh đúng vị.
Mười giờ đêm, điện thoại tui rung. Email của chị Vân Kiều, gửi cho anh Duy Khương, tui trong ô đồng gửi. Một dòng:
"Xưởng đèn nhựa giao sớm. Sáng mai một ngàn cái đã có ở kho trung tâm. Họp chín giờ, chốt phương án."
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe