Chương 9: Mười lăm phút làm một cái ông sao
Còn bảy ngày.
Một ngàn cái đèn nhựa nằm trong kho trung tâm thương mại, xếp thành mười hai chồng cao quá đầu người, bọc màng co trong suốt. Tám giờ sáng, tui xin anh bảo vệ cho vô coi. Tui xé một góc màng co, rút ra một cái.
Nó là một con cá chép. Nhựa đúc, sơn bóng, in hoa văn vảy cá giả giấy kiếng màu đỏ cam. Cái đuôi đúc thẳng, không uốn. Bấm nút dưới bụng, đèn bảy màu chớp lên, một đoạn nhạc tò te phát ra từ cái loa nhỏ xíu. Nó có hai con mắt, in sẵn, tròn xoe, nhìn thẳng về phía trước, không chớp.
Tui để nó lại vô chồng.
Chín giờ kém mười lăm, ba tui tới. Ba mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất của ba, áo đi đám cưới, cổ áo đã ngả vàng. Ba ôm một cái thùng các tông lớn, đi vô sảnh trung tâm thương mại như đi vô chùa, ngước nhìn trần nhà năm tầng, nhìn mấy cái thang cuốn, nhìn cái đài phun nước giữa sảnh. Anh Hào đi sau ba, ôm hai cái thùng nữa. Anh mặc áo thun đen, đầu tóc gọn gàng, mà trên mu bàn tay vẫn còn một vệt hồ khô.
– Con chắc không? – ba hỏi lần thứ ba.
– Không chắc ba.
– Vậy làm.
Phòng họp ở tầng sáu, có cửa kính nhìn xuống sảnh. Bảy người ngồi quanh bàn: ông giám đốc trung tâm, một ông bên tài chính, hai người bên tiếp thị, chị Vân Kiều, anh Duy Khương, và tui. Ba tui với anh Hào đứng ở cửa, ôm thùng, chờ.
Chị Vân Kiều mở đầu. Chị đọc con số. Ngân sách cắt bốn mươi phần trăm. Đèn nhựa đã có trong kho, đã trả bảy mươi phần trăm. Đèn giấy đắt gấp ba, cần thay đèn cầy mỗi ngày, rủi ro cháy, rủi ro rách. Chị nói rõ ràng, công bằng, không chê ai. Chị nói xong, ông giám đốc gật đầu, quay sang tui.
– Em có mười lăm phút.
– Dạ. – Tui đứng dậy. – Em xin mười lăm phút đó để mời mọi người làm một cái lồng đèn.
Phòng họp im phắc. Anh Duy Khương nhắm mắt lại một giây.
Tui ra hiệu. Ba tui với anh Hào bước vô, mở thùng, đặt trước mặt mỗi người một bộ đồ nghề: năm nan tre đã vót sẵn, mỏng đều như sợi mì; một cuộn kẽm nhỏ; một tờ giấy kiếng đỏ; một chén hồ bột; một cây đèn cầy; một cây que làm cán. Ba tui đứng ở đầu bàn, tay cầm một bộ y vậy.
– Ông sao năm cánh, – ba nói. Giọng ba run một chút ở chữ đầu, rồi vững lại. – Mười lăm phút. Tui làm trước, mấy anh chị làm theo.
Ông bên tài chính nhìn ông giám đốc. Ông giám đốc nhìn tui, nhìn ba tui, rồi cởi cúc tay áo, xắn lên.
Ba tui làm chậm, chậm hơn bình thường gấp năm lần. Ba bẻ nan tre thành hình năm cánh, cột kẽm từng góc, giơ lên cho mọi người coi. Rồi ba đi vòng quanh bàn, chỉnh tay từng người. Ông bên tài chính cột kẽm lỏng, ông sao xệ một cánh. Một chị bên tiếp thị bẻ gãy nan tre, ba đưa nan khác, nói vót tre là vót theo thớ, uốn tre là uốn theo thớ, đừng đè. Anh Duy Khương làm khéo nhất, chắc vì ảnh vẽ tay mười mấy năm.
Chị Vân Kiều làm chậm nhất. Chị cột kẽm, tháo ra, cột lại. Chị dán giấy kiếng, giấy nhăn, chị gỡ ra dán lại. Ba tui đứng sau lưng chị lâu hơn những người khác. Ba không nói gì, chỉ đưa tay vuốt mép giấy cho chị một lần.
Mười tám phút. Bảy cái ông sao nằm trên bàn họp, cái méo, cái xệ, cái nhăn giấy, cái nào cũng đỏ. Anh Hào cắm đèn cầy vô từng cái. Tui đi tới cửa sổ, kéo rèm che kín, rồi tắt đèn phòng họp.
Anh Hào bật quẹt, đốt từng cây đèn cầy.
Bảy cái ông sao sáng lên trong bóng tối. Ánh đèn cầy chập chờn qua lớp giấy kiếng đỏ, hắt lên trần, lên vách, lên mặt bảy người ngồi quanh bàn những vệt đỏ ấm, run run. Không ai nói gì. Ông giám đốc cầm cái ông sao xệ một cánh của mình lên, xoay xoay, nhìn cái bóng nó in lên tường. Chị Vân Kiều ngồi im, hai tay đặt hai bên cái ông sao nhăn giấy của chị, không đụng tới, như sợ nó tắt.
Tui để vậy chừng một phút. Rồi tui bật đèn phòng, kéo rèm lên.
– Dạ, đó là mười lăm phút của em, – tui nói. – Bây giờ em xin thêm năm phút nói về tiền.
Tui không nói đèn giấy rẻ hơn. Nó không rẻ hơn. Tui nói ba chuyện.
Chuyện thứ nhất: không cần một ngàn cái đèn giấy treo khắp năm tầng. Tầng bốn, tầng năm, cách mặt đất hai chục mét, khách nhìn từ dưới lên đúng là không phân biệt được giấy với nhựa. Chị Vân Kiều nói đúng. Bốn trăm cái đèn nhựa đã có trong kho, treo trên đó. Sáu trăm cái đèn giấy treo ở tầng trệt và tầng hai, ngang tầm tay, nơi con nít đi qua, nơi người ta đứng chụp hình.
Chuyện thứ hai: bốn trăm cái đèn giấy còn lại của xóm không treo. Bán. Ngay tại sảnh, một gian hàng nhỏ, giá bằng giá ở sạp nhà tui ngoài hẻm.
Chuyện thứ ba, tui nói lâu nhất: một cái bàn gỗ dài đặt cạnh lò bánh. Mỗi buổi chiều và cuối tuần, ba tui với sáu người thợ còn lại của xóm Phú Bình ngồi đó, dạy con nít làm lồng đèn. Mỗi lượt bốn mươi phút, mười lăm đứa, có phí. Mỗi đứa làm xong đem về một cái lồng đèn do chính tay nó làm, méo cũng được, xệ cũng được. Tui đưa ra con số: tính theo lượng khách cuối tuần của trung tâm tháng trước, nếu chỉ một phần trăm số gia đình có con nhỏ đăng ký, xưởng lồng đèn tự trả được tiền công thợ và bù được hơn một nửa phần chênh giữa giấy với nhựa. Phần còn lại, tiền chia từ gian bánh của lò Gia Hào bù vô.
– Còn rủi ro cháy? – ông bên tài chính hỏi.
– Đèn giấy treo trên cao thì dùng bóng đèn nhỏ chạy pin, không dùng đèn cầy. Đèn cầy chỉ dùng ở bàn làm lồng đèn, có thợ ngồi canh, có bình chữa cháy. Lò bánh đã được bên phòng cháy kiểm, biên bản trong hồ sơ.
Một cô bên tiếp thị, trẻ nhất phòng, nãy giờ cầm cái ông sao của mình soi lên đèn trần, chợt hỏi:
– Chú ơi, trong cây nan tre này có chữ gì nè chú. T8 là gì vậy chú?
Cả phòng quay nhìn. Trên cây nan tre ba vót sẵn, chỗ khớp nối hai cánh sao, có hai chữ mực tàu nhỏ xíu. Ba tui đã ký vô từng bộ nan đem theo, từ tối hôm qua, tui không hề biết.
– Chữ ký của tui, – ba nói. – Tám là tên tui. Đồ nhà tui làm thì có tên tui. Lồng đèn hư, cháy, rách, người ta biết kiếm ai.
Cô bên tiếp thị nhìn cái ông sao, rồi nhìn người đồng nghiệp bên cạnh, mắt sáng lên kiểu người làm nghề vừa thấy một thứ bán được.
– Mỗi cái lồng đèn có tên người làm, – cô nói, như nói với chính mình. – Sáu trăm cái, bảy người thợ, mỗi người một chữ ký. Khách đốt đèn lên là thấy tên.
– Khách mua thì biết mình mua của ai, – tui nói. – Con nít làm ở xưởng thì ký tên mình vô.
Ông giám đốc nhìn chị Vân Kiều.
Chị Vân Kiều không nhìn ai. Chị nhìn cái ông sao nhăn giấy trước mặt. Rồi chị cầm cây bút, lật tờ bảng tính, gạch mấy con số, ghi mấy con số khác. Chị tính lâu, môi mấp máy. Cả phòng chờ.
– Bốn trăm cái nhựa trên tầng bốn, tầng năm, – chị nói. – Sáu trăm cái giấy ở dưới. Gian bán lồng đèn. Xưởng dạy con nít. Lò bánh. – Chị ngẩng lên. – Con số chạy được. Sát, mà chạy được.
Ông giám đốc gật đầu.
– Duyệt.
Ba tui đứng ở đầu bàn, không nhúc nhích. Ba nhìn ông giám đốc như nhìn một người vừa nói một tiếng nước ngoài. Rồi ba cúi xuống, gom mấy nan tre thừa trên bàn bỏ lại vô thùng, gom từng mẩu kẽm vụn, lau vệt hồ rớt trên mặt bàn kính bằng cái khăn ba giắt túi quần. Ba làm vậy cho tới khi mọi người ra hết. Tui biết ba làm vậy để khỏi phải ngẩng mặt lên. Anh Hào đứng ở cửa, ôm cái thùng rỗng, cũng không ngẩng mặt lên. Hai người đàn ông cứng đầu nhất mà tui biết, đứng dọn một cái bàn họp đã sạch, trong một căn phòng lạnh như tủ đông, không ai nói với ai câu nào.
Ra khỏi phòng họp, chị Vân Kiều đi ngang tui. Chị dừng lại, không nhìn tui, nói nhỏ:
– Cái ông sao, chị đem về được không em?
– Của chị làm mà chị.
Chị gật đầu, cầm cái ông sao nhăn giấy đi về phía thang máy, cầm bằng hai tay như cầm một cái gì dễ vỡ.
Ba tui ngồi ở băng ghế ngoài hành lang, áo sơ mi trắng ướt đẫm mồ hôi dù phòng họp lạnh như tủ đông. Anh Duy Khương đi tới, bắt tay ba, nói một câu gì đó tui không nghe rõ. Ba gật đầu, gật đầu. Anh Duy Khương quay qua tui, vỗ vai một cái, rồi đi, không nói câu "anh đã nói rồi", cũng không nói câu ngược lại.
Anh Hào đứng ở cuối hành lang, cạnh cái cửa sổ kính nhìn xuống sảnh. Tui đi tới đứng cạnh anh. Dưới sảnh, công nhân đang dựng giàn treo đèn, những thanh sắt dài gác ngang tầng hai.
– Ý của anh đó, – tui nói. – Cái giờ làm lồng đèn.
– Ý của chú Tám. – Anh cười. – Chú làm năm chục năm rồi. Tui chỉ đứng coi.
Hai đứa đứng im nhìn xuống. Một lát, anh nói, giọng nhẹ như nói chuyện thời tiết:
– Rằm, tui đem con cá xuống. Bà nhớ đem hũ sơn.
Tối đó tui về nhà, leo lên gác, mở cái hộp thiếc nhỏ trong ngăn kéo bàn vẽ. Trong đó có ba tờ tiền dính bột mì đã ố vàng, kẹp trong một tờ giấy tập. Có một mẩu giấy xé từ nắp hộp bánh đỏ, ghi một số điện thoại đã chết. Có một hũ sơn trắng cỡ ngón tay cái, mua ba ngàn đồng năm mười bảy tuổi, chưa từng mở nắp.
Tui vặn nắp. Nắp kẹt. Tui dùng răng cắn, vặn mạnh, nắp bật ra.
Bên trong, sơn trắng đã khô lại thành một cục cứng như đá vôi, nứt nẻ như mặt ruộng mùa hạn.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe