Chương 9: Những hòn sỏi trắng sỏi đen
Thằng Cún, cháu nội bà Cả Vân, bốn tuổi, nằm trên cái chõng tre giữa nhà, hai mắt trũng sâu, môi khô nẻ, thở khe khẽ như con mèo con. Khi Khiêm cầm bàn tay nó lên, da tay nhăn nheo như da người già ngâm nước lâu.
Ông lang Diệu ở làng bên đã đến từ trước. Ông ngồi ở mép chõng, bắt mạch cho thằng bé, rồi lắc đầu.
– Tả lỵ. Mất nước nhiều rồi. – Ông nói. – Tôi cho thang thuốc lá ổi búp với gạo rang, sắc lấy nước cho cháu uống. Nhưng cháu nôn ra hết thì thuốc cũng không vào.
Khiêm nhìn thằng bé. Anh biết đủ để sợ. Một đứa trẻ bốn tuổi mất nước vì tiêu chảy có thể đi trong vòng một ngày, nếu không có gì bù vào. Ở thế giới của anh, người ta có những gói bột pha nước, có bình truyền, có bệnh viện. Ở đây chỉ có nồi niêu, bếp rơm, và một ông lang già.
Anh nhớ một điều nữa, điều anh từng đọc trong một bài báo về những vùng lũ lụt nghèo đói: khi không có gì khác, nước cháo loãng nấu nhừ pha một chút muối cũng là thứ cứu người. Không phải thuốc. Chỉ là nước, muối, và tinh bột của gạo, đủ để thân thể giữ lại được nước.
– Ông lang ạ. – Anh nói. – Cháu xin nấu thêm một nồi cháo loãng, chắt lấy nước, pha một nhúm muối, cho cháu Cún uống từng thìa một, mỗi lúc một ít, uống liên tục, cả trong lúc ông sắc thuốc. Nôn ra thì lại cho uống tiếp, từng thìa nhỏ.
Ông lang Diệu nhíu mày. Rồi ông gật đầu.
– Nước cháo thì không hại gì. Gạo rang trong thuốc của tôi cũng là để giữ nước. – Ông nói. – Cứ cho uống. Nhưng phải đun sôi kỹ.
Bà Cả Vân ngồi bên chõng cả ngày, cầm cái thìa sành, mỗi lúc lại bón cho thằng Cún một thìa nước cháo. Thằng bé nôn ra mấy lần. Bà lại bón tiếp. Đến chiều tối thì nó thôi nôn. Đến nửa đêm, nó tỉnh dậy, khóc đòi bà. Bà Cả Vân ôm chặt lấy nó, khóc to hơn cả nó.
Nhưng trong khi Khiêm ngồi bên chõng thằng Cún, tin đồn đã chạy khắp mười hai làng.
Ai ăn tương nhà bà Nhỡ cũng đau bụng. Tương nhà ấy xui. Bố nó làm lật đò, chết đuối, giờ đến lượt tương nhà nó làm chết người. Có người còn bảo bà Nhỡ ủ tương bằng nước sông Lành có hồn ma ông Sáu Nghiêu dưới đáy.
Tư Sẹo đi từ làng này sang làng khác, đến đâu cũng kể, kể đến đâu cũng thêm một tí.
Sáng hôm sau, không ai đến gốc gạo đầu đê. Cái vại sành vẫn ở đấy, tấm phên nứa vẫn ở đấy, cụ Thông vẫn ngồi trong chòi. Nhưng không có ai.
Bà Nhỡ ngồi trong bếp, không nói một lời. Hai vò tương bà mang ra chợ hôm trước đã mang về nguyên chỗ còn lại, đặt ở góc hiên, đậy nón lá. Con Cốm ngồi khung cửi, dệt mà không ai nghe thấy tiếng thoi.
Khiêm ngồi trước hiên, nhìn ra cái giếng khơi góc sân.
Anh nghĩ. Anh không biết gì nhiều về bệnh tật. Anh dạy Sinh, không phải dạy Y. Nhưng anh biết một điều: nếu tương nhà Nhỡ có độc, thì cả nhà Nhỡ đã đau bụng trước. Bà Nhỡ ăn tương mỗi bữa. Thằng Tép ăn tương mỗi bữa. Anh cũng thế. Không ai sao cả.
Vậy thì cái gì?
Anh gọi thằng Tép và con Lài lại.
– Anh cần biết một chuyện. – Anh nói. – Hôm phiên chợ, những ai mua tương nhà mình? Họ ở làng nào, xóm nào? Ai về nhà đau bụng, ai không? Còn những người đau bụng, họ có mua tương nhà mình không? Họ uống nước ở đâu?
Lài nhìn anh, rồi gật đầu. Nó hiểu nhanh hơn anh tưởng.
Ba ngày liền, thằng Tép và con Lài đi khắp mười hai làng. Thằng Tép nhớ mặt từng người mua tương, vì chính nó cầm muôi múc tương. Con Lài biết mặt gần hết người bên này sông, vì chuyến đò nào nó cũng chở. Hai đứa đi từng nhà, hỏi từng người. Tối về, chúng ngồi ở hiên, kể lại cho Khiêm nghe. Khiêm ngồi bệt dưới đất, lấy một cái que, vạch xuống nền sân thành một tấm bản đồ: con sông, con đê, gốc gạo, và mười hai làng như mười hai cái chấm nhỏ. Mỗi nhà mua tương, anh đặt một hòn sỏi trắng. Mỗi nhà đau bụng, anh đặt một hòn sỏi đen.
Đến tối thứ ba, tấm bản đồ trên nền sân hiện ra rõ mồn một.
Ba mươi hai nhà mua tương. Hai mươi sáu nhà ở các làng Thượng Sậy, Hạ Sậy, Cổ Sậy, ở xóm Đìa, xóm Đình, không ai đau bụng. Sáu nhà ở xóm Đông Sậy đau bụng.
Còn mười một nhà đau bụng khác thì không mua tương nhà Nhỡ. Nhà ông Đồ Hanh, người hôm phiên chợ còn đứng ở cổng nhà mình chê chợ lậu, không đi chợ, không mua gì. Nhà ông cũng đau bụng cả nhà.
Tất cả mười bảy nhà đau bụng, có tương hay không có tương, đều ở xóm Đông Sậy, xóm ở chỗ trũng nhất của làng, ngay sát chân đoạn đê vỡ.
Khiêm đứng dậy, cầm đuốc, đi sang xóm Đông Sậy.
Xóm có một cái giếng chung, giếng khơi thành gạch, nằm ngay cạnh cái ao xóm. Trận lụt tuần trước, nước tràn vào xóm, tràn qua cả thành giếng. Nước rút rồi, người ta vẫn múc nước giếng ấy để ăn, để uống. Củi rơm đã ướt hết sau trận lụt, nhà nào cũng thiếu củi, nên phần lớn uống nước lã, múc lên là uống. Khiêm cúi nhìn xuống lòng giếng. Dưới ánh đuốc, mặt nước đục lờ, có váng. Mùi tanh tưởi bốc lên. Ở mép ao bên cạnh, mấy con vịt chết trương phềnh nổi lềnh bềnh.
Anh hỏi bà Cả Vân. Bà bảo nhà con trai bà ở xóm ấy, thằng Cún hôm ấy khát quá, uống liền một gáo nước giếng xóm. Anh hỏi nhà ông Đồ Hanh. Ông Đồ Hanh không nói gì, nhưng con dâu ông bảo cả nhà uống nước giếng xóm, vì củi ướt, không đun được.
Sáng hôm sau, Khiêm lên đình. Anh xin ông lý trưởng cho đánh một hồi mõ.
Ông lý trưởng không muốn. Ông bảo chợ lậu, tương độc, chuyện đang rối, ông chánh tổng đã trình lên phủ rồi, đánh mõ là to chuyện. Nhưng cụ Thông đứng bên cạnh Khiêm, gõ gậy xuống nền gạch đình ba cái.
– Ông lý, giếng xóm Đông Sậy đang làm người ta ốm. Thằng Cún nhà bà Cả Vân suýt chết. Ông không đánh mõ thì tôi đánh.
Hồi mõ vang lên lúc gần trưa. Dân làng Trũng Sậy kéo đến sân đình, người nào cũng tò mò, người nào cũng lo lắng. Khiêm đứng trên bậc đình, kể lại những gì Tép và Lài đã hỏi được. Anh không nói về vi khuẩn, về nước nhiễm bẩn, về những thứ người ta không nhìn thấy được. Anh chỉ nói về những hòn sỏi trắng và sỏi đen. Ba mươi hai nhà mua tương, hai mươi sáu nhà không sao. Mười bảy nhà đau bụng, cả mười bảy đều uống nước giếng xóm Đông Sậy.
Dân làng xì xào. Có người không tin. Có người bảo thằng Bấc bịa chuyện để chữa thẹn cho tương nhà nó.
Rồi ông Đồ Hanh bước ra.
Ông là người đọc chữ nhiều nhất làng, là người hôm phiên chợ đã đứng ở cổng chê chợ lậu, người chưa bao giờ nói một câu tử tế với nhà Nhỡ. Ông đứng trước sân đình, chống gậy, gầy rộc đi sau ba ngày đau bụng.
– Tôi không ăn tương nhà bà Nhỡ. – Ông nói, giọng run run nhưng rõ ràng. – Cả đời tôi chưa mua của nhà ấy một bát nào. Tôi cũng đau bụng. Cả nhà tôi đau bụng. Nhà tôi uống nước giếng xóm Đông Sậy.
Sân đình im phăng phắc.
– Thằng Bấc nói đúng. – Ông Đồ Hanh nói. – Đừng uống nước giếng ấy nữa.
Chiều hôm ấy, ông lý trưởng cho người lấp tạm cái giếng xóm Đông Sậy bằng phên tre, dặn mọi người sang múc nhờ giếng khác, đun sôi rồi mới uống. Khiêm và thằng Quý cháu cụ Thông vớt xác vịt ở ao xóm, chôn ở gò xa.
Tối ấy, lúc ngồi ăn cơm, Khiêm nói với mẹ:
– Phiên chợ tới, con muốn đặt một nồi nước chè xanh dưới gốc gạo. Đun sôi. Ai đến chợ cũng được uống, không mất tiền.
Con Cốm ngẩng phắt lên.
– Lấy củi đâu ra? Củi bây giờ đắt như vàng. Mỗi phiên chợ phải đốt ba bó củi, một bó hai đồng. Lấy tiền bán tương mà mua củi à?
– Ừ. Lấy tiền bán tương.
– Anh điên à? – Cốm đập đôi đũa xuống mâm. – Nhà mình còn nợ ông Bá. Tôi còn phải dệt một năm rưỡi nữa.
Khiêm im lặng. Anh biết con bé nói đúng. Anh biết mỗi phiên chợ ba bó củi là sáu đồng, là sáu bát tương, là một phần nhỏ trong món nợ mà con Cốm đang dệt từng tấm vải để trả.
Nhưng anh cũng biết rằng nếu người ta còn uống nước lã ở chợ, sẽ lại có người đau bụng, và lần sau tin đồn sẽ không chịu dừng lại ở mười bảy nhà.
Bà Nhỡ đặt bát xuống.
– Lấy tiền bán tương mà mua củi. – Bà nói. – Tương nhà này người ta đã bảo có độc một lần rồi. Không có lần thứ hai.
Con Cốm nhìn mẹ, rồi cúi xuống, không cãi nữa.
Phiên chợ thứ hai, gốc gạo đầu đê có một cái bếp kiềng ba hòn gạch, trên bếp là một cái nồi đồng to đun nước chè xanh, hơi bốc nghi ngút. Bên cạnh có mấy cái bát sành úp sẵn trên một cái mẹt. Ai khát thì múc, không ai hỏi tiền. Thằng Tép ngồi canh bếp, cứ chốc chốc lại bỏ thêm củi.
Phiên ấy chỉ có hai chục người. Nhưng phiên sau có bốn chục. Phiên sau nữa, gần bảy chục.
Một buổi sáng giữa tháng Năm, khi Khiêm đang cắm thêm mấy cái cọc tre ở rìa chợ để mở thêm ô, thằng Lục quản gia nhà Bá Hàm đi tới. Nó đứng nhìn cái chợ một lúc, nhìn nồi nước chè, nhìn cái vại sành, rồi nhìn Khiêm.
– Ông Bá bảo tao sang báo. – Nó nói. – Quan phủ Lạc Điền về làng xem đê vỡ, đúng ngày rằm. Ông chánh tổng đã trình lên quan về cái chợ này. Quan phủ sẽ xét ngay dưới gốc gạo này. Ông Bá cũng phải ra, vì ông ấy đứng tên chợ Đồng Bến.
Nó ngừng một lúc, rồi nói thêm, giọng nhỏ hơn:
– Ông chánh tổng có đơn của Tư Sẹo, bảo tương nhà mày làm mười bảy nhà đau bụng. Đơn có ba mươi người điểm chỉ.
— Hết chương 9 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe